Áp giải, dẫn giải trong tố tụng hình sự

0

1. Áp giải, dẫn giải là gì?

Áp giải là biện pháp cưỡng chế buộc người bị buộc tội phải đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

Dẫn giải là biện pháp cưỡng chế buộc người làm chứng, người bị tố giác hoặc bị kiến nghị khởi tố đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố, xét xử hoặc người bị hại từ chối giám định đến nơi giám định.

Việc mở rộng phạm vi và thẩm quyền áp giải, dẫn giải trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng áp dụng thuận lợi hơn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Tuy nhiên, đây là vấn đề nhạy cảm trong thực tiễn thực hiện và dễ bị phản ứng nên khi áp dụng cần cân nhắc thận trọng và chỉ áp dụng khi cần thiết.


2. Đối tượng áp dụng

– Áp giải có thể áp dụng đối với người người bị buộc tội (người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo).

– Dẫn giải có thể áp dụng đối với những người sau đây:

Một là, người làm chứng trong trường hợp họ không có mặt theo giấy triệu tập mà không vi lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;

Hai là, người bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;

Ba là, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án, đã được triệu tập mà vẫn vắng mặt không vi lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.

Hình minh họa. Áp giải, dẫn giải trong tố tụng hình sự

3. Thẩm quyền quyết định áp giải, dẫn giải

Điều tra viên, cấp trưởng của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định áp giải, dẫn giải.


4. Thủ tục áp giải, dẫn giải

Quyết định áp giải, quyết định dẫn giải phải ghi rõ họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị áp giải, dẫn giải; thời gian, địa điểm người bị áp giải, dẫn giải phải có mặt và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Người thi hành quyết định áp giải, dẫn giải phải đọc, giải thích quyết định và lập biên bản vê’ việc áp giải, dẫn giải theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Cơ quan công an nhân dân, quân đội nhân dân có thẩm quyền có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định áp giải, dẫn giải.

Không được bắt đầu việc áp giải, dẫn giải người vào ban đêm; không được áp giải, dẫn giải người già yếu, người bị bệnh nặng có xác nhận của cơ quan y tế.

5/5 - (8 bình chọn)