Bôi nhọ danh dự người khác trên MXH có phạm tội không?

0

Hiện nay, với sự phát triển của mạng internet là sự phát triển mạnh mẽ của các trang mạng xã hội. Cùng với những lợi ích to lớn của sự phát triển này là một số hệ lụy đặc trưng là cách ứng xử trên các trang mạng xã hội. Vậy, đối với hành vi bội nhọ danh dự của người khác trên mạng xã hội (MXH) có vi phạm pháp luật hay không? Cùng HILAW tìm hiểu qua bài viết sau:


1. Bôi nhọ danh dự người khác trên mạng xã hội có phạm tội không?

Người có hành vi bôi nhọ danh dự người khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội danh sau nếu thỏa mãn tất các yếu tố cấu thành của tội danh đó. Cụ thể:

1.1. Tội làm nhục người khác

Theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015, hành vi đưa thông tin người khác lên mạng xã hội, đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự và việc đưa thông tin đó đã xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác là bôi nhọ danh dự, nhân phẩm, thanh danh, sự trong sạch của người khác, làm cho họ mất uy tín với những người xung quanh, với người cùng học tập, công tác hoặc với những người thân trong gia đình.

Sử dụng mạng xã hội được coi là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của tội tội làm nhục người khác và có thể bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Trong trường hợp, gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lên tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc làm nạn nhân tự sát thì có thể bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

Xem thêmTội làm nhục người khác theo BLHS 2015

1.2. Tội vu khống

Theo quy định tại Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015 về tội vu khống:

1. Người nào thực hiện một trong các hành sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt từ từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với ông, bà cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người đang thi hành công vụ;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổnt hương cơ thể từ 31% đến 60%;

h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Vì động cơ đê hèn;

b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Xem thêmTội vu khống theo quy định của BLHS 2015

Hình minh họa. Bôi nhọ danh dự người khác trên MXH có phạm tội không?

2. Trách nhiệm pháp lý áp dụng đối với người có hành vi bôi nhọ người khác trên mạng xã hội

2.1. Truy cứu trách nhiệm hình sự

Người thực hiện hành vi bôi nhọ danh người khác trên mạng xã hội, nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội làm nhục người khác hoặc tội vu khống thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với từng tội danh tương ứng.

2.2. Xử phạt vi phạm hành chính

Căn cứ Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử thì:

Điều 100. Vi phạm các quy định về trách nhiệm của tổ chức, doanh nghiệp thiết lập mạng xã hội

[…] 3. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Chủ động lưu trữ, truyền đưa thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, vu khống, xuyên tạc, xúc phạm uy tín của tổ chức và danh dự, nhân phẩm của cá nhân;

[…] 4. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Tước quyền sử dụng Giấy phép thiết lập mạng xã hội từ 8 tháng đến 12 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 2 và khoản 3 Điều này.

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Buộc thu hồi tên miền do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này.

Điều 101. Vi phạm các quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội

1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong các hành vi sau:

a) Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;

[…] 3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này.

2.3. Bồi thường thiệt hại

Theo quy định tại Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể: “ Người nào có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”.

Người có hành vi vi phạm không những phải bồi thường các chi phí để khắc phục thiệt hại còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị bôi nhọ về danh dự, nhân phẩm. Mức bồi thường sẽ do các bên tự thỏa thuận được thì mức tiền bồi thường tối đa là không quá 10 tháng lương cơ sở.

Bên cạnh đó, người bị thông tin sai sự thật làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm còn có quyền yêu cầu người có hành vi vi phạm đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai.

Do đó, có thể khẳng định người thực hiện hành vi bôi nhọ danh dự người khác trên mạng xã hội phải bồi thường thiệt hại bằng tiền, công khai cin lỗi, cãi chính thông tin nếu người bị xâm phạm danh dự yêu cầu và những hành vi bôi nhọ danh dự thỏa mãn hết cấu thành của vi phạm nói trên.

5/5 - (1 bình chọn)


 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
Để lại bình luận