Các yếu tố của quan hệ nghĩa vụ

0

1. Chủ thể của nghĩa vụ

Chủ thể của quan hệ pháp luật nói chung là những người tham gia quan hệ pháp luật đó. Chủ thể của quan hệ nghĩa vụ là những người tham gia vào quan hệ nghĩa vụ, bao gồm: Cá nhân, pháp nhân, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các chủ thể này có những quyền và nghĩa vphát sinh từ quan hệ nghĩa vụ mà họ tham gia.

Các chủ thể này khi tham gia một quan hệ nghĩa vụ sẽ thiết lập mối liên hệ pháp lý về quyền và nghĩa vụ giữa hai bên. Trong đó, một bên được gọi là người có quyền, một bên được gọi là người có nghĩa vụ.

Bên có quyền: Là một bên trong quan hệ nghĩa vụ được pháp luật bo đảm quyền được yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định vì lợi ích của mình.

Bên có nghĩa vụ: Là một bên trong quan hệ nghĩa vbuộc phải thực hiện hoặc không được thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định vì lợi ích của bên có quyền. .

Tùy theo tính chất của từng quan hệ nghĩa vụ cụ thể mà những quan hệ nghĩa vụ trong đó một bên chỉ có quyền yêu cầu nhưng không phải gánh vác nghĩa vụ, còn một bên có nghĩa vụ thực hiện cho bên kia công việc nhất định mà không có quyền yêu cầu. Những quan hệ nghĩa vụ ở dạng này được gọi là quan hệ đơn vụ.

Mặt khác, trong phần lớn các quan hệ nghĩa vụ thì mỗi bên chủ thể tham gia đều có quyền yêu cu bên kia thực hiện những hành vi nhất định nhằm đem lại lợi ích cho mình. Và ngược lại

họ cũng phải thực hiện những nghĩa vnhất định nhằm đáp ứng lợi ích cho phía bên kia. Nghĩa là, trong những quan hệ nghĩa vụ, mỗi bên chủ thể vừa là người có quyền, vừa là người có nghĩa vụ. Những quan hệ nghĩa vụ ở dạng này được gọi là quan hệ song vụ. Khi xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong các quan hệ nghĩa vụ mang tính song vụ cần phải xem xét để xác định tương ứng với hành vi nhất định, chủ thể nào là người có nghĩa vụ thực hiện hành vi đó.

Ví dụ: Quan hệ nghĩa vụ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng mua bán tài sản là quan hệ song vụ. Trong đó, đi với hành vi giao vật bán thì bên bán là người có nghĩa vụ, đi với hành vi trả tiền thì bên mua là người có nghĩa vụ.

Hình minh họa. Các yếu tố của quan hệ nghĩa vụ

2. Nội dung của nghĩa vụ

Khi tham gia quan hệ nghĩa vụ, mỗi bên hướng tới lợi ích nhất định. Theo đó, lợi ích mà một bên hướng tới chỉ đạt được khi bên kia thực hiện đầy đủ các hành vi mang tính nghĩa vụ của họ. Quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự là hai yếu tố cấu thành nội dung của quan hệ nghĩa vụ.

Vì vậy, có thể nói nội dung của quan hệ nghĩa vụ là tổng hợp các quyền và nghĩa vcủa các bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ nghĩa vụ có thể do các bên tự thỏa thuận xác định hoặc do luật định. Bao gồm:

Quyền yêu cầu: Là xử sự mà bên có quyền được phép thực hiện theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Xử sự được coi là quyền trong quan hệ nghĩa vụ chính là quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện những hành vi nhất định.

Nghĩa vụ dân sự: Là xử sự bắt buộc theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật mà bên có nghĩa vụ phải thực hiện. Xử sự được coi là nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ chính là việc phải thực hiện hành vi nhất định như chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của bên có quyền.


3. Khách thể của nghĩa v

Ở góc độ lý luận chung về nhà nước và pháp luật thì khách thể của quan hệ pháp luật là lợi ích mà các chủ thể hướng tới nhằm đạt được. Quan hệ nghĩa vụ có đặc trưng cơ bản là

quyền và nghĩa vụ của các bên luôn đối lập nhau một cách tương ứng. Vì vậy, trong các quan hệ nghĩa vụ, hướng tới quyền lợi của mình chính là việc chủ thể có quyền luôn hướng tới hành vi thực hiện nghĩa vụ của chủ thể phía bên kia. Ngược lại, để bên kia thực hiện lợi ích cho mình thì mỗi bên chủ thể đều phải quan tâm và thực hiện những hành vi nhất định để hoàn thành nghĩa vụ của mình. Nói cách khác, hành vi thực hiện nghĩa vụ của các bên chủ thể luôn được sự quan tâm và hướng tới của các bên chủ thể. Chẳng hạn, trong quan hệ nghĩa vụ phát sinh từ một hợp đồng mua bán tài sản, để đạt được lợi ích của mình, bên mua quan tâm đến hành vi giao vật bán của bên bán, bên bán quan tâm đến hành vi trả tiền của bên mua. Mặt khác, để bên bán giao vật bán cho mình, bên mua phải thực hiện hành vi trả tiền, để bên mua trả tiền, bên bán phải thực hiện hành vi giao vật. Vì vậy, hành vi thực hiện nghĩa vụ là khách thể trong quan hệ nghĩa vụ.

Khách thể của quan hệ nghĩa vụ là những xử sự của các bên chủ thế mà chỉ thông qua đó, quyền yêu cầu cũng như nghĩa vụ của các chủ thể mới được thực hiện.

Hành vi thực hiện nghĩa vụ một phương tiện thông qua đó, quyền lợi của các chủ thể được thực hiện. vậy, trong các quan hệ nghĩa vụ, hành vi cái các chủ thể đều hướng tới, khách thể nói chung của mọi quan hệ nghĩa vụ. Tuy nhiên, tương ứng với sự đa dạng của các quan hệ nghĩa vụ, hành vi là khách thể của quan hệ nghĩa vụ cũng rất đa dạng, phong phú.

Trong nhiều quan hệ nghĩa v, hành vi của các chủ thể gắn liền với một vật nhất định mà nếu không vật đó sẽ không có hành vi.

Ví dụ: Nếu không có vật bán sẽ không có hành vi giao vật bán.

Vật được gắn liền với hành vi trong quan hệ nghĩa vụ, được gọi đối tượng của nghĩa v. Đối tượng của nghĩa vụ ý nghĩa quan trọng. Nếu thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của một bên, quyền của bên kia sđược thoả mãn thì chỉ thông qua tính chất, đặc điểm của đối tượng mới thấy được quyền của bên quyền đã được thoả mãn mức độ nào. vậy, trong các quan hệ nghĩa vụ hành vi với cách khách thể của quan hnghĩa vụ đó gắn liền với vật thì bên quyền không chỉ quan tâm tới hành vi còn quan tâm đến vật gắn liền với hành vi đó.

d: Trong quan hệ nghĩa vụ phát sinh từ một hợp đồng mua n tài sản, người mua không chỉ quan tâm đến việc người bán chuyển vật bán cho mình hay không mà còn quan tâm đến vật người bán chuyển giao đúng với số lượng, chất lượng hoặc tình trạng như đã thoả thuận hay không.

Trái lại, trong các quan hệ nghĩa vụ hành vi của chủ thể không gắn liền với vật thì bên quyền chỉ cần quan tâm đến việc thực hiện hành vi đó của chủ thể mang nghĩa vụ.

Ví dụ: Trong quan hệ nghĩa vụ phát sinh từ một hợp đồng dịch vụ thì bên thuê dịch vụ chỉ cần quan tâm đến việc bên cung ứng dịch vụ thực hiện hành vi cung ứng dịch vụ như thế nào, có bảo đảm quyền và lợi ích của mình hay không.

Hành vi (sự xử sự của các chủ thể) có thể được thể hiện ở dạng hành động tác vi) nhưng cũng có thể được thể hiện ở dạng không hành động (bất tác vi). Nếu hành vi là hành động và kết quả được tạo ra từ hành vi đó là vật cụ thể thì hành vi này được gọi là hành vi được vật chất hoá. Trái lại, nếu kết quả đó không phải là một vật cụ thể, thì hành vi này là hành vi không được vật chất hoá. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp hành vi còn tồn tại ở dạng không hành động khi đối tượng của nghĩa vụ là một công việc không được làm). Trong những trường hợp này, người ta quan tâm đến sự bất đng” của nhau, vì chính sự bất độngđó sẽ bảo đảm lợi ích cho bên có quyền.

5/5 - (8 bình chọn)

 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại bình luận