Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự

0

Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn có tác động trực tiếp đến các quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Do vậy, để bảo đảm áp dụng đúng và tránh lạm dụng trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định bốn căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn.


1. Để kịp thời ngăn chặn tội phạm

Để kịp thời ngăn chặn tội phạm trước khi tội phạm xảy ra có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước nước, quyền và lợi ích của cá nhân. Mỗi tội phạm xảy ra bao giờ cũng để lại những hậu quả xấu về thể chất, tinh thần, tài sản, uy tín… Do vậy, kịp thời ngăn chặn tội phạm, không để tội phạm xảy ra hoặc không để người phạm tội có điều kiện kết thúc hành vi phạm tội của mình gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội là việc làm cần thiết và cấp bách.

Căn cứ này được áp dụng khi tội phạm chưa diễn ra hoặc đang diễn ra nhưng chưa kết thúc. Nếu tội phạm đã kết thúc rồi thì sẽ không áp dụng căn cứ này. Như vậy, căn cứ “Để kịp thời ngăn chặn tội phạm” có phạm vi áp dụng khá hẹp và thường được áp dụng để giữ người trong trường hợp khẩn cấp khi có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 như khi có căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 111 Bộ luật Tố tụng hình sự, bắt người phạm tội quả tang khi người đó đang thực hiện tội phạm…


2. Khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử

Khác với căn cứ thứ nhất, căn cứ này thường được áp dụng đối với người bị buộc tội là bị can, bị cáo, người đang bị truy nã và trong trường hợp tội phạm đã kết thúc, không phải là chưa xảy ra hoặc đang xảy ra như căn cứ thứ nhất. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, việc bị can, bị cáo có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc làm rõ những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án và giải quyết vụ án được kịp thời, đúng thời hạn… Nếu bị can, bị cáo trốn tránh hoặc có những hành vi cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thì việc xác định sự thật khách quan của vụ án sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử là một trong các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn.

Căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử được thể hiện qua việc bỏ trốn; mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối; tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa trả thù người làm chứng, người bị hại, người tố giác và người thân thích của những người này…

Hình minh họa. Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự

3. Khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ tiếp tục phạm tội

Áp dụng biện pháp ngăn chặn, cách li người bị buộc tội khi họ có biểu hiện tiếp tục phạm tội và tước bỏ điều kiện phạm tội đối với họ là cần thiết nên Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ tiếp tục phạm tội là căn cứ để áp dụng biện pháp ngăn chặn.

Khác với căn cứ thứ nhất “để kịp thời ngăn chặn tội phạm”, căn cứ thứ hai và căn cứ thứ ba đều nhằm ngăn chặn không để tội phạm xảy ra. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, điểm khác nhau giữa hai căn cứ này là “để kịp thời ngăn chặn tội phạm” được áp dụng với những người chưa bị khởi tố về hình sự đối với hành vi được xác định là lý do dẫn đến việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với họ, còn để ngăn chặn việc “người bị buộc tội sẽ tiếp tục phạm tội” thường được áp dụng với các bị can, bị cáo (những người đã bị khởi tố về hình sự hoặc đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử) khi có căn cứ cho rằng họ sẽ tiếp tục phạm tội.

Những căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ tiếp tục phạm tội có thể xác định trên các phương diện sau:

– Về nhân thân người bị bắt, bị can, bị cáo: Người bị bắt, bị can, bị cáo là những đối tượng có nhân thân xấu như bị can, bị cáo là những đối tượng thuộc diện lưu manh, côn đồ, hung hãn; Bị can, bị cáo là những người đã có nhiều tiền án, tiền sự hoặc những đối tượng phạm tội có tính chất chuyên nghiệp như chuyên sống bằng các nghề cướp giật, trộm cắp, lừa đảo…

– Về hành vi của người bị buộc tội: người bị buộc tội đã có những biểu hiện sẽ tiếp tục phạm tội thể hiện như đe dọa trả thù người tố giác, đe dọa trả thù bị hại, người làm chứng và đã có sự chuẩn bị công cụ, phương tiện hoặc các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm và xét thấy người bị buộc tội có khả năng.


4. Để bảo đảm thi hành án

Bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được đưa ra thi hành. Việc thi hành các bản án hoặc quyết định của Tòa án có liên quan trực tiếp đến người bị kết án. Vì vậy, nếu người bị kết án trốn tránh hoặc có hành vi gây khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc thi hành án thì cần phải áp dụng biện pháp ngăn chặn. Và đây cũng chính là lý do để Bộ luật Tố tụng hình sự quy định để bảo đảm thi hành án là căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn.

Căn cứ này cũng có phạm vi áp dụng khá hẹp, và thường được Tòa án áp dụng căn cứ này trong những trường hợp sau:

Đối với bị cáo không bị tạm giam nhưng bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt tù thì Hội đồng xét xử có thể ra quyết định bắt tạm giam bị cáo ngay tại phiên tòa để bảo đảm thi hành án, nếu có căn cứ cho thấy bị cáo có thể trốn hoặc tiếp tục phạm tội.

Đối với bị cáo không bị tạm giam nhưng bị Tòa án cấp phúc thẩm xử phạt tù thì Hội đồng xét xử có thể ra quyết định bắt tạm giam ngay để bảo đảm thi hành án, trừ trường hợp bị cáo có lý do để hoãn thi hành án phạt tù.

5/5 - (8 bình chọn)

 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại một bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công khai.