Cấu thành tội phạm của tội hiếp dâm

0 100.128

1. Căn cứ pháp lý

Tội hiếp dâm được quy định tại Điều 141 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bởi Khoản 23 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017):

Điều 141. Tội hiếp dâm

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

c) Nhiều người hiếp một người;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Đối với 02 người trở lên;

e) Có tính chất loạn luân;

g) Làm nạn nhân có thai;

h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

d) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.


2. Cấu thành tội phạm của tội hiếp dâm

2.1. Khách thể của tội phạm

Tội phạm xâm phạm vào danh dự, nhân phẩm của con người, xâm phạm vào quyền tự do tình dục của người phụ nữ.

2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Tội phạm được thể hiện bằng hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể chống cự được của nạn nhân hoặc dùng thủ đoạn khác để giao cấu trái ý muốn của nạn nhân.

– Dùng vũ lực: là dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể của người khác nhằm đè bẹp sự kháng cự của nạn nhân để thực hiện hành vi giao cấu. Ví dụ: vật ngã, xé quần áo, trói, giữ tay chân… đè bẹp sự phản kháng của nạn nhân để giao cấu trái ý muốn của họ…

– Đe dọa dùng vũ lực: dùng lời nói, cử chỉ, hành động đe dọa sẽ dùng sức mạnh vật chất xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của nạn nhân làm họ tê liệt ý chí để giao cấu trái ý muốn của họ. Khi nhận định về sự đe dọa dùng vũ lực này cần chú ý đến không gian, thời gian, mức độ tấn công cũng như lời đe dọa để đánh giá và nhận định.

Ví dụ: Trần Văn Đ dùng dao chặn đường khổng chế chị c khi chị c đang trên đường đi làm về khuya. Đ bắt chị c phải xuống xe, cởi quần áo cho hắn giao cấu nếu không hẳn sẽ đâm chết và vứt xác xuống sóng. Mặc dù chưa xảy ra việc dùng vũ lực nhưng sẽ xảy ra nếu chị c có hành vi chống cự.

Hình minh họa. Cấu thành tội phạm của tội hiếp dâm

– Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân: đó là trường hợp nạn nhân đang trong hoàn cảnh ốm đau, bệnh tật, tai nạn bị ngất, mê man bất tỉnh, bị tiêm thuốc ngủ chưa tinh, bị tâm thần… không thể chống cự được để thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn đối với họ.

Ví dụ: Biết H mắc bệnh tâm thần và bại liệt hai chân, Đ đã giao cấu vớiH. Trong trường hợp này 1 do bệnh tật H không nhận biết và làm chủ được hành vi của mình, còn hành vi giao cấu của Đ đã phạm tội hiếp dâm.

– Dùng thủ đoạn khác: là ngoài những thủ đoạn nêu trên, người phạm tội có những hành vi khác làm cho nạn nhân lâm vào tình trạng không thể kháng cự được nhằm giaocấu trái ý muốn đối với họ.

Ví dụ: Bỏ thuốc mê vào cốc nước hoặc thuốc kích dục vào cốc nước cho nạn nhân uống để giao cấu với họ.

Giao cấu trái ý muốn là giao cấu không được sự đồng ý của người bị giao cấu. Việc xác định trái ý muốn hay không cần dựa vào thực tế người phạm tội có dùng vũ lực hay thủ đoạn khác hay không. Để đánh giá được đầy đủ tính chất, mức độ phạm tội cần xem xét toàn diện các khía cạnh như: mối quan hệ giữa hai người; thủ đoạn thực hiện tội phạm; hoàn cảnh khi xảy ra hành vi phạm tội, thái độ của nạn nhân trước và sau khi giao cấu…

Tội phạm coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội có hành vi giao cấu với nạn nhân, không kể việc giao cấu đã kết thúc hay chưa.

2.3. Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.

2.4. Chủ thể của tội phạm

Bất kỳ ai có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.


3. Hình phạt

* Khung cơ bản được quy định tại khoản 1 Điều 141 Bộ luật Hình sự 2015 có mức phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

* Khung tăng nặng thứ nhất được quy định tại khoản 2 Điều 141 Bộ luật Hình sự 2015mức phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

* Khung tăng nặng thứ hai được quy định tại khoản 3 Điều 141 Bộ luật Hình sự 2015mức phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân.

* Khung tăng nặng thứ ba được quy định tại đoạn 1 khoản 4 Điều 141 Bộ luật Hình sự 2015 có mức phạt tù từ năm năm đến mười năm.

* Khung tăng nặng thứ tư được quy định tại đoạn 2 khoản 4 Điều 141 Bộ luật Hình sự 2015 có mức phạt tù như quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này.

5/5 - (100 bình chọn)


 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Ads Blocker Image Powered by Code Help Pro

Hỗ trợ chúng tôi bằng cách tắt TRÌNH CHẶN QUẢNG CÁO của bạn!

Cảm ơn bạn đã chọn website HILAW.VN!
Có vẻ như bạn đang sử dụng trình chặn quảng cáo. Quảng cáo tài trợ kinh phí cho website chất lượng và hoạt động tốt hơn.
Vui lòng cho phép quảng cáo để tiếp tục thưởng thức những thông tin pháp luật mới nhất mỗi ngày.