Chủ thể của quyền tác giả là ai?

0

Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học là thành quả của các nỗ lực sáng tạo của con người. Các quyền đối với tác phẩm của người sáng tạo ra nó được pháp luật bảo hộ. Theo quy định tại Điều 13 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 thì tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm: Người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm; Tác giả và các đồng tác giả; Tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng tác giả; Tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả chuyển giao quyền tác giả.

Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả bao gồm cá nhân Việt Nam (cá nhân đang mang quốc tịch Việt Nam hoặc tổ chức do Nhà nước Việt Nam thành lập, công nhận). Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác. Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (Khoản 2 Điều 13 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005). Như vậy, trong lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam áp dụng nguyên tắc đối xử quốc gia để bảo hộ quyền tác giả cho tổ chức, cá nhân nước ngoài. Quy định này tương thích với Khoản 4, Điều 3 của Công ước Berne: “Được xem là công bố đồng thời ở nhiều nước: Những tác phẩm được công bố ở hai hay nhiều nước trong thời gian ba mươi ngày kể từ ngày công bố đầu tiên”. Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên.

Thế nào là tác phẩm được công bố? Theo Khoản 3, Điều 3 của Công ước Berne, tác phẩm được công bố là những tác phẩm được phát hành với sự đồng ý của tác giả, không phân biệt phương pháp cấu tạo các bản sao, miễn là các bản đó đủ để đáp ứng nhu cầu hợp lý của quần chúng tùy theo bản chất của tác phẩm. Không được coi là công bố: Sự trình diễn một tác phẩm sân khấu, nhạc kịch hay điện ảnh, hòa tấu một tác phẩm âm nhạc, đọc trước công chúng một tác phẩm văn học, phát thanh hay truyền hình một tác phẩm văn học hay nghệ thuật, biểu diễn một tác phẩm nghệ thuật hay xây dựng một tác phẩm kiến trúc. Pháp luật nước ta quy định bảo hộ quyền tác giả ngay từ khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định chưa cần đã công bố hay chưa công bố (Khoản 1, Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2005).

Những tác phẩm được bảo hộ phải do công dân Việt Nam sáng tạo ra, thuộc sở hữu của công dân, pháp nhân, tổ chức Việt Nam; đối với người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài pháp luật Việt Nam cũng bảo hộ trong trường hợp tác giả sáng tạo tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam và tác giả, chủ sở hữu của những tác phẩm được bảo hộ theo Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

5/5 - (6 bình chọn)

 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại một bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công khai.