Chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan

0

Chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan là việc chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan cho phép người khác sử dụng có thời hạn một, một số hoặc toàn bộ các quyền thuộc quyền sử dụng đối với quyền tác giả, quyền liên quan của mình.


1. Hợp đồng chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan

Hợp đồng chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan là việc chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan thỏa thuận với tổ chức, cá nhân khác cho phép sử dụng có thời hạn một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại Khoản 3 Điều 19, Điều 20, Khoản 3 Điều 29, Điều 30 và Điều 31 của Luật Sở hữu trí tuệ.


2. Đối tương của hợp đồng chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan

Các quyền tác giả, quyền liên quan được phép chuyển quyền sử dụng được quy định tại Điều 47 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005, bao gồm:

– Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm (Khoản 3 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ) của tác giả, của đồng tác giả, của người giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác, của người thừa kế, của người được chuyển giao quyền; của Nhà nước quy định tại các Điều 37, Điều 38, Điều 39, Điều 40 và Điều 42 của Luật Sở hữu trí tuệ.

– Các quyền tài sản của người nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản theo quy định tại Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ).

– Quyền tài sản của người biểu diễn đối với cuộc biểu diễn nếu người biểu diễn đồng thời là chủ sở hữu quyền.

– Quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình đối với bản ghi âm, ghi hình, nếu nhà sản xuất là nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình là chủ sở hữu quyền đối với bản ghi âm, ghi hình đó.

– Quyền của tổ chức phát sóng đối với chương trình phát sóng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với các bên liên quan Việc chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan nhằm khai thác có hiệu quả tác phẩm. Đối với các quyền nhân thân không thể chuyển giao thì khi chuyển quyền sử dụng chỉ bao gồm quyền tài sản mà quyền nhân thân vẫn thuộc về tác giả. Khoản 2 Điều 47 của Luật Sở hữu trí tuệ quy định tác giả không được phép chuyển quyền sử dụng các quyền nhân thân bao gồm:

– Đặt tên cho tác phẩm (khoản 1 Điều 19).

– Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng (khoản 2 Điều 19).

– Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả (khoản 4 Điều 19).

Cũng theo quy định tại khoản 2 Điều 47 của Luật Sở hữu trí tuệ, người biểu diễn không được chuyển quyền sử dụng các quyền nhân thân bao gồm:

– Quyền được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn;

– Quyền được bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn.

Hình minh họa. Chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan

3. Chủ thể chuyển quyền và nhận quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan

Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 thì chủ thể có thể chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan, trong đó đối với từng đối tượng của quyền tác giả, quyền liên quan thì có các chủ thể chuyển quyền sử dụng tương ứng.

Đối với quyền tác giả, những chủ thể có quyền chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, bao gồm:

– Chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả, các đồng tác giả;

– Người giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

– Người thừa kế, người được chuyển giao quyền đang nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản theo quy định tại Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ cũng có thể được phép chuyển giao quyền sử dụng quyền tác giả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

– Nhà nước theo quy định tại các Điều 37, Điều 38, Điều, Điều 40, Điều 41 và Điều 42 của Luật Sở hữu trí tuệ.

Đối với quyền liên quan, chủ thể có quyền chuyển giao quyền sử dụng quyền liên quan bao gồm:

– Người biểu diễn đối với cuộc biểu diễn nếu người biểu diễn đồng thời là chủ sở hữu cuộc biểu diễn đó.

– Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình đối với bản ghi âm, ghi hình, nếu nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình là chủ sở hữu bản ghi âm, ghi hình đó.

– Tổ chức phát sóng đối với chương trình phát sóng của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với các bên liên quan. Trường hợp quyền tác giả, quyền liên quan chỉ thuộc quyền sở hữu của một chủ sở hữu duy nhất thì chủ sở hữu có quyền quyết định việc chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan đó, cho cá nhân, tổ chức khác. Nếu có đồng chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan thì việc chuyển nhượng sử dụng được thực hiện như sau: Trong trường hợp tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có đồng chủ sở hữu thì việc chuyển nhượng quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan phải có sự thỏa thuận của tất cả các đồng chủ sở hữu; trong trường hợp có đồng chủ sở hữu những tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng có các phần riêng biệt có thể tách ra để sử dụng độc lập thì chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có thể chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan đối với phần riêng của mình cho tổ chức, cá nhân khác.

Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan phải được lập thành văn bản bao gồm các nội dung chủ yếu sau: tên và địa chỉ của bên chuyển quyền và bên được chuyển quyền; căn cứ chuyển quyền; giá, phương thức thanh toán; quyền và nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng (khoản 1 Điều 48 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005).

Điểm cần lưu ý đối với loại hợp đồng này, chủ sở hữu chỉ chuyển giao quyền sử dụng đối tượng của quyền tác giả, quyền liên quan trong một thời hạn nhất định nên gần giống với loại hợp đồng cho thuê hay cho mượn tài sản trong Bộ luật Dân sự.

Tương tự như đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, quyền liên quan, việc thực hiện, việc sửa đổi, chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan có thể được thực hiện theo các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

5/5 - (9 bình chọn)

 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại bình luận