Cơ chế bảo hộ và trình tự thủ tục xác lập quyền đối với sáng chế

0

1. Cơ chế bảo hộ đối với sáng chế

Bảo hộ đối với sáng chế xuất phát từ việc đăng ký của người sáng tạo ra hoặc sở hữu sáng chế theo những trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định. Trong trường hợp hồ sơ đáp ứng được các yêu cầu về các điều kiện bảo hộ thì nhà nước sẽ cấp văn bằng bảo hộ đối với các sáng chế đăng ký. Việc cấp văn bằng bảo hộ là một cơ chế đặc trưng trong việc thực hiện bảo hộ đối với các sáng chế và giải pháp hữu ích mà pháp luật của nhiều nước trên thế giới đều ghi nhận. Pháp luật Việt Nam hiện tại cũng quy định hình thức bảo hộ đối với sáng chế và giải pháp hữu ích là thông qua việc cấp bằng độc quyền. Kể từ ngày được nhà nước cấp văn bằng độc quyền, quyền SHTT đối với sáng chế được xác lập và sẽ được bảo hộ bởi nhà nước bằng những biện pháp bảo vệ.

Thực chất, việc bảo hộ sáng chế nói riêng và bảo hộ đối tượng SHTT nói chung được thực hiện tương tự như cơ chế bảo hộ các tài sản hợp pháp khác của chủ sở hữu. Theo đó, chủ sở hữu có độc quyền sử dụng, khai thác những giá trị của sáng chế để phục vụ cho các nhu cầu và lợi ích của mình như ứng dụng các sáng chế vào kinh doanh bằng việc sản xuất hàng loạt sản phẩm cung cấp cho thị trường. Chủ sở hữu của sáng chế cũng có quyền trực tiếp hoặc yêu cầu nhà nước ngăn chặn việc sử dụng hoặc khai thác trái pháp luật sáng chế để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nếu xác định được các hành vi xâm phạm quyền SHTT đối với sáng chế, nhà nước sẽ bảo vệ chủ sở hữu bằng các biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự. Bên cạnh đó, đối với sáng chế, khi đã được cấp bằng độc quyền xác nhận tư cách sở hữu, chủ sở hữu có thể thực hiện các hành vi chuyển nhượng, trao đổi, mua bán tương tự như các tài sản khác.


2. Trình tự, thủ tục xác lập quyền đối với sáng chế

Như đã nêu trên, việc xác lập quyền đối với sáng chế phải bắt đầu bằng sự chủ động của người sáng tạo ra hoặc chủ sở hữu của sáng chế thông qua việc nộp đơn xin bảo hộ (được cấp bằng độc quyền sáng chế). Pháp luật của các nước và của Việt Nam đều quy định tương đối chặt chẽ về trình tự, thủ tục này.

2.1. Quyền đăng ký đối với sáng chế

Trước hết, việc đăng ký sáng chế được xác định là quyền của người sáng tạo ra hoặc chủ sở hữu sáng chế. Theo pháp luật Việt Nam, những người có quyền đăng ký sáng chế trước hết là những tác giả sáng tạo ra sáng chế bằng công sức và chi phí của mình. Người sáng tạo ra sáng chế đồng thời là chủ sở hữu sáng chế.

Đối tượng thứ hai có quyền đăng ký sáng chế là tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dưới hình thức giao việc, thuê việc, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác và thỏa thuận đó không trái với quy định tại Khoản 2 Điều 86, Luật Sở hữu trí tuệ 2005. Trường hợp này, chủ sở hữu sáng chế và người tạo ra sáng chế là hai chủ thể khác nhau. Chủ sở hữu sáng chế là người đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện hỗ trợ cho việc tạo ra sáng chế, do đó theo pháp luật họ là người có quyền đăng ký sáng chế. Đối với người tạo ra sáng chế, mặc dù họ là người trực tiếp tạo ra sáng chế nhưng về bản chất họ được thuê khoán để làm việc đó trên cơ sở có trả thù lao công việc nên không có quyền đăng ký sáng chế.

Trường hợp nhiều tổ chức, cá nhân cùng nhau tạo ra hoặc đầu tư để tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí thì các tổ chức, cá nhân đó đều có quyền đăng ký và quyền đăng ký đó chỉ được thực hiện nếu được tất cả các tổ chức, cá nhân đó đồng ý. Ở đây, các sáng chế được xem là một tài sản chung do các tổ chức, cá nhân đồng sở hữu, do đó, quyền đăng ký sáng chế về mặt pháp lý thuộc về tất cả đồng sở hữu. Đối với những trường hợp này, việc đăng ký sẽ thực hiện được dễ dàng nếu có sự đồng thuận cao, nhưng cũng có thể việc đăng ký sẽ gặp trở ngại nếu có các ý kiến khác nhau giữa các đồng chủ sở hữu hoặc các đồng sở hữu không có điều kiện để thể hiện sự đồng thuận của mình như trực tiếp ký vào đơn đăng ký. Để tạo điều kiện thuận lợi hơn đối với những trường hợp như vậy, pháp luật Việt Nam đã quy định: Trong các trường hợp người có quyền đăng ký theo quy định của pháp luật đều có quyền chuyển giao quyền đăng ký cho tổ chức, cá nhân khác dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản, để thừa kế hoặc kế thừa theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp đã nộp đơn đăng ký.

Đối với những trường hợp sáng chế được tạo ra trên cơ sở Nhà nước đầu tư một phần hoặc toàn bộ kinh phí và sử dụng các phương tiện vật chất – kỹ thuật, quyền đăng ký sáng chế, tùy vào từng trường hợp cụ thể sẽ thuộc một phần hoặc toàn bộ về Nhà nước. Trong trường hợp này, tổ chức, cơ quan nhà nước được giao quyền chủ đầu tư hoặc tổ chức, cơ quan nhà nước là chủ phần vốn đầu tư của Nhà nước có trách nhiệm đại diện Nhà nước thực hiện quyền đăng ký này.

Điều 11 Nghị định 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật SHTT về sở hữu công nghiệp:

1. Trong trường hợp sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được tạo ra trên cơ sở Nhà nước đầu tư toàn bộ kinh phí, phương tiện vật chất – kỹ thuật, quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí thuộc về Nhà nước. Tổ chức, cơ quan nhà nước được giao quyền chủ đầu tư có trách nhiệm đại diện Nhà nước thực hiện quyền đăng ký nói trên.

2. Trong trường hợp sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được tạo ra trên cơ sở Nhà nước góp vốn (kinh phí, phương tiện vật chất – kỹ thuật), một phần quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí tương ứng với tỷ lệ góp vốn thuộc về Nhà nước. Tổ chức, cơ quan nhà nước là chủ phần vốn đầu tư của Nhà nước có trách nhiệm đại diện Nhà nước thực hiện phần quyền đăng ký nói trên.

3. Trong trường hợp sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được tạo ra trên cơ sở hợp tác nghiên cứu – phát triển giữa tổ chức, cơ quan nhà nước với tổ chức, cá nhân khác, nếu trong thỏa thuận hợp tác nghiên cứu – phát triển không có quy định khác thì một phần quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí tương ứng với tỷ lệ đóng góp của tổ chức, cơ quan nhà nước trong việc hợp tác đó, thuộc về Nhà nước. Tổ chức, cơ quan nhà nước tham gia hợp tác nghiên cứu – phát triển có trách nhiệm đại diện Nhà nước thực hiện quyền đăng ký nói trên.

4. Tổ chức, cơ quan nhà nước thực hiện quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều này đại diện nhà nước đứng tên chủ Văn bằng bảo hộ và thực hiện việc quản lý quyền SHCN đối với các đối tượng đó, có quyền chuyển nhượng phần quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí của Nhà nước cho tổ chức, cá nhân khác với điều kiện tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng phần quyền đăng ký phải trả cho Nhà nước một khoản tiền hoặc các điều kiện thương mại hợp lý khác so với tiềm năng thương mại của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế
bố trí đó
”.

Hình minh họa. Cơ chế bảo hộ và trình tự thủ tục xác lập quyền đối với sáng chế

2.1. Cách thức và nguyên tắc nộp đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, những tổ chức, cá nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam khi nộp đơn đăng ký xác lập quyền SHCN có thể thực hiện một cách trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam. Đối với trường hợp cá nhân nước ngoài không thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài không có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam khi nộp đơn đăng ký xác lập quyền SHCN thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam35. Như vậy, đối với sáng chế, các cá nhân tổ chức có thể có hai cách thức nộp đơn đăng ký yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ là trực tiếp hoặc thông qua đại diện. Việc nộp đơn được xem là một bước khởi đầu cho tiến trình xem xét cấp văn bằng bảo hộ và phải tuân theo những nguyên tắc nhất định.

Trước hết, việc nộp và xem xét đơn phải tuân theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên. Theo đó, trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký các sáng chế trùng hoặc tương đương với nhau thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho sáng chế trong đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ. Đây là những trường hợp rất hay xảy ra trong thực tế có liên quan đến thời gian nộp đơn đăng ký. Ở một số tài liệu, người ta còn sử dung thuật ngữ “ngày ưu tiên” để chỉ ngày nộp các đơn đăng ký đối với những sáng chế trùng nhau hoặc có nhiều đặc điểm tương tự nhau. Về mặt lý thuyết, ai sáng tạo ra trước thì được bảo hộ trước. Tuy vậy, trong thực tế, đối với một sáng chế rất khó để xác định được ai là người sáng tạo ra trước cho nên pháp luật phải xác định theo tiêu chí ưu tiên là “nộp đơn đăng ký trước”.

Pháp luật của phần lớn các nước đều quy định theo nguyên tắc này, theo đó nếu có từ hai chủ thể trở lên đều nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ cùng với một sáng chế, thì văn bằng bảo hộ sẽ được cấp cho người nộp đơn sớm nhất trong số những người nộp đơn đó. Việc quy định như vậy sẽ tạo ra động lực để các tác giả của các sáng chế có ý thức hơn trong việc tự bảo vệ mình, bởi vì họ sẽ phải cảnh giác trước nguy cơ bị người khác “ăn cắp” sáng chế và đăng ký trước. Về vấn đề này, pháp luật của Hoa Kỳ trước đây lại có quy định khác: ở Hoa Kỳ, ai sáng tạo trước sẽ được cấp văn bằng bảo hộ, bất kể người đó có nộp đơn yêu cầu bảo hộ trước hay không. Vì vậy, hiện nay quy định đó đã bị hủy bỏ. Tuy nhiên, trong trường hợp này, người nộp đơn phải chứng minh được sáng chế của họ có trước và thực tiễn cho thấy rằng, trong nhiều trường hợp việc chứng minh này là không hề đơn giản.

Ở Việt Nam, trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký cùng đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ và cùng có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thì văn bằng bảo hộ chỉ có thể được cấp cho đối tượng của một đơn duy nhất trong số các đơn đó theo sự thỏa thuận của tất cả những người nộp đơn; nếu không thỏa thuận được thì các đối tượng tương ứng của các đơn đều bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ. Đối với những trường hợp như vậy, nhà nước đặt các chủ sở hữu sáng chế trước hai sự lựa chọn: một là, họ phải thỏa thuận với nhau để cùng được đăng ký bảo hộ dưới một văn bằng duy nhất; hai là, họ sẽ không được cấp văn bằng bảo hộ nếu không thỏa thuận được với nhau và tất nhiên quyền và lợi ích hợp pháp của họ liên quan đến sáng chế bị đe doạ. Trong tình hình đó, rõ ràng việc lựa theo phương án thứ nhất là ưu việt hơn cả trong bối cảnh họ đều nộp đơn cùng thời gian cho cùng một sáng chế và pháp luật Việt Nam lại theo nguyên tắc ưu tiên cho người nộp đơn trước.

Ngoài ra, trong các trường hợp nhiều đơn nộp cùng ngày cho một sáng chế thì các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước phải tính đến một khía cạnh khác nữa là tính “hợp lệ” của việc nộp đơn. Theo pháp luật Việt Nam, tính hợp lệ của việc nộp đơn có thể được đánh giá dựa trên các tiêu chí như: nộp đúng cơ quan có thẩm quyền (Cục SHTT); đơn phải đúng mẫu và thể hiện bằng ngôn ngữ tiếng Việt; khai đầy đủ các mục cần khai trong mẫu đơn; đóng lệ phí; và có đầy đủ các hồ sơ đi kèm cần thiết khác. Như vậy, tính hợp lệ của việc nộp đơn cũng có thể là một tiêu chí để xác định ngày chính thức nộp đơn.

Bên cạnh nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, pháp luật Việt Nam còn quy định nguyên tắc ưu tiên khi xem xét đơn yêu cầu bảo hộ. Quyền ưu tiên đối với đơn đăng ký sáng chế được áp dụng như sau:

“1. Trong trường hợp người nộp đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu muốn hưởng quyền ưu tiên theo quy định của Công ước Paris, yêu cầu hưởng quyền ưu tiên của người nộp đơn sẽ được chấp nhận nếu đáp ứng các điều kiện sau:

a) Người nộp đơn là công dân Việt Nam hoặc công dân của nước Thành viên của Công ước Paris hoặc cư trú, có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam hoặc tại nước Thành viên Công ước đó;

b) Đơn đầu tiên đã được nộp tại Việt Nam hoặc tại nước Thành viên của Công ước Paris và đơn đó có chứa phần tương ứng với yêu cầu hưởng quyền ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu;

c) Đơn đăng ký được nộp trong thời hạn sau đây kể từ ngày nộp đơn đầu tiên: sáu tháng đối với đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp hoặc đơn đăng ký nhãn hiệu, mười hai tháng đối với đơn đăng ký sáng chế;

d) Trong đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, người nộp đơn có nêu rõ yêu cầu hưởng quyền ưu tiên và có nộp bản sao đơn đầu tiên nêu tại Điểm b khoản này trong trường hợp nộp tại nước ngoài, trong đó có xác nhận của Cơ quan nhận đơn đầu tiên;

đ) Nộp đủ lệ phí yêu cầu hưởng quyền ưu tiên…”.

Khoản 1, Điều 10, Nghị định 103/2006/NĐ-CP.

Như vậy, việc xác định thời gian nộp đơn để từ đó khẳng định quyền ưu tiên không chỉ giới hạn ở phạm vi lãnh thổ một quốc gia mà mang tính quốc tế. Hiện tại, Việt Nam lấy Công ước Paris làm cơ sở để xem xét khả năng hưởng quyền ưu tiên của các đơn đăng ký có yếu tố nước ngoài. Nhìn chung, cá nhân hay tổ chức nếu muốn được hưởng quyền ưu tiên theo nguyên tắc này thì phải chứng minh được mình đã nộp đơn theo đúng thủ tục, trình tự và thời hạn ở một quốc gia là thành viên của Công ước Paris. Ngoài ra, trong trường hợp người nộp đơn đăng ký sáng chế muốn hưởng quyền ưu tiên theo điều ước quốc tế khác, yêu cầu hưởng quyền ưu tiên sẽ được chấp nhận tại Việt Nam nếu đáp ứng các điều kiện về quyền ưu tiên quy định trong điều ước đó”.

2.3. Yêu cầu đối với đơn đăng ký bảo hộ sáng chế

Tổ chức, cá nhân khi nộp đơn phải tuân thủ các quy định về hình thức cũng như thủ tục. Đối với quyền SHCN nói chung, pháp luật Việt Nam quy định đơn đăng ký phải bao gồm các tài liệu sau: (a) Tờ khai đăng ký theo mẫu quy định; (b) Tài liệu, mẫu vật, thông tin thể hiện đối tượng SHCN đăng ký bảo hộ; (c) Giấy ủy quyền, nếu đơn nộp thông qua đại diện; (d) Tài liệu chứng minh quyền đăng ký, nếu người nộp đơn thụ hưởng quyền đó của người khác; (đ) Tài liệu chứng minh quyền ưu tiên, nếu có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên; (e) Chứng từ nộp phí, lệ phí41.

Mặt khác, đơn đăng ký sáng chế và giấy tờ giao dịch giữa người nộp đơn và cơ quan quản lý nhà nước về quyền SHCN phải được làm bằng tiếng Việt, trừ các tài liệu sau đây có thể được làm bằng ngôn ngữ khác nhưng phải được dịch ra tiếng Việt khi cơ quan quản lý nhà nước về quyền SHCN yêu cầu:

– Giấy ủy quyền;

– Tài liệu chứng minh quyền đăng ký;

– Tài liệu chứng minh quyền ưu tiên;

– Các tài liệu khác để bổ trợ cho đơn.

Ngoài ra, người nộp đơn có thể phải kèm theo các tài liệu chứng minh quyền ưu tiên đối với đơn đăng ký sáng chế bao gồm bản sao đơn hoặc các đơn đầu tiên có xác nhận của cơ quan đã nhận đơn đầu tiên và giấy chuyển nhượng quyền ưu tiên nếu quyền đó được thụ hưởng từ người khác. Theo quy định của pháp luật nói, mỗi đơn đăng ký SHCN chỉ được yêu cầu cấp một bằng độc quyền sáng chế bảo hộ cho một đối tượng SHCN duy nhất. Tuy vậy, trường hợp một nhóm sáng chế có mối liên hệ chặt chẽ về kỹ thuật nhằm thực hiện một ý đồ sáng tạo chung duy nhất thì mỗi đơn đăng ký sáng chế có thể yêu cầu cấp một Bằng độc quyền sáng chế hoặc một Bằng độc quyền giải pháp hữu ích.

Đơn đăng ký sáng chế được thực hiện theo mẫu và phải đáp ứng các yêu cầu theo quy định của pháp luật. Cụ thể, tài liệu xác định sáng chế bảo hộ trong đơn đăng ký sáng chế bao gồm bản mô tả sáng chế và bản tóm tắt sáng chế, trong đó bản mô tả sáng chế gồm phần mô tả sáng chế và phạm vi yêu cầu bảo hộ sáng chế.

Đối với phần mô tả sáng chế phải đáp ứng các điều kiện pháp luật yêu cầu. Thứ nhất, phải bộc lộ đầy đủ và rõ ràng bản chất của sáng chế đến mức căn cứ vào đó người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể thực hiện được sáng chế đó; thứ hai, giải thích vắn tắt hình vẽ kèm theo, nếu cần làm rõ thêm bản chất của sáng chế; thứ ba, làm rõ tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế.

Mặt khác, phạm vi yêu cầu bảo hộ sáng chế phải được thể hiện dưới dạng tập hợp các dấu hiệu kỹ thuật cần và đủ để xác định phạm vi quyền đối với sáng chế và phải phù hợp với phần mô tả sáng chế và hình vẽ. Đối với bản tóm tắt sáng chế phải bộc lộ được bản chất của sáng chế. Thông thường, bản tóm tắt này được thông báo công khai và nhằm mục đích giúp cho các chủ thể liên quan trao đổi thông tin liên quan đến sáng chế.

Điều 11, Nghị định 103/2006/NĐ-CP quy định về đơn quốc tế về sáng chế:

1. Trong Điều này, Đơn PCTđược hiểu là Đơn đăng ký sáng chế nộp theo Hiệp ước PCT, bao gồm:

a) Đơn có yêu cầu bảo hộ tại Việt Nam, được nộp tại bất kỳ nước Thành viên nào của Hiệp ước PCT, kể cả Việt Nam (sau đây gọi là Đơn PCT có chỉ định hoặc có chọn Việt Nam);

b) Đơn được nộp tại Việt Nam, trong đó có yêu cầu bảo hộ tại bất kỳ nước thành viên nào của Hiệp ước PCT, kể cả Việt Nam (sau đây gọi là Đơn PCT có nguồn gốc Việt Nam).

2. Cơ quan quản lý nhà nước về SHCN xem xét Đơn PCT có chọn hoặc có chỉ định Việt Nam khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người nộp đơn tiến hành các thủ tục đăng ký sáng chế tại cơ quan quản lý nhà nước về SHCN của Việt Nam (Giai đoạn quốc gia) theo quy định của Hiệp ước PCT trong thời hạn ba mươi mốt tháng kể từ ngày nộp đơn quốc tế hoặc kể từ ngày ưu tiên (nếu đơn có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên);

b) Nộp phí, lệ phí về SHCN theo quy định của pháp luật.

3. Đơn PCT có nguồn gốc Việt Nam phải được làm bằng tiếng Anh hoặc tiếng Nga và phải đáp ứng các yêu cầu về hình thức và nội dung quy định tại Hiệp ước PCT. Người nộp đơn có thể nộp đơn cho cơ quan quản lý nhà nước về SHCN hoặc cho Văn phòng quốc tế của Tổ chức SHTT thế giới (WIPO).

4. Bộ KH&CN quy định chi tiết hình thức, nội dung, trình tự, thủ tục xử lý đơn PCT từ các quốc gia khác có chỉ định hoặc có chọn Việt Nam, Đơn PCT có nguồn gốc Việt Nam” 

5/5 - (8 bình chọn)


 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại bình luận