Điều tra, truy tố và xét xử trong thủ tục rút gọn tố tụng hình sự

0

1. Điều tra trong thủ tục rút gọn tố tụng hình sự

– Về mặt thời hạn: theo quy định tại Điều 460 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thời hạn điều tra theo thủ tục rút gọn là 20 ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án. Quy định này cho thấy mức độ rút gọn về thời hạn điều tra giữa thủ tục chung với thủ tục rút gọn có một khoảng cách đáng kể (thủ tục thông thường quy định chung về thời hạn điều tra tối thiểu với tội ít nghiêm trọng là 02 tháng).

– Về mặt thủ tục: khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra không phải làm bản kết luận điều tra mà ra quyết định đề nghị truy tố và gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định đề nghị truy tố.


2. Truy tố trong thủ tục rút gọn tố tụng hình sự

Theo quy định tại Điều 461 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định đề nghị truy tố và hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát ra một trong các quyết định sau:

2.1. Truy tố bị can trước Tòa án bằng quyết định truy tố

Khi xét thấy việc điều tra đã đầy đủ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, Viện kiểm sát sẽ quyết định việc truy tố bị can ra trước tòa. Khác với quy định tại khoản 1 Điều 243 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trong việc giải quyết vụ án theo thủ tục chung, Viện kiểm sát không truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng, mà bằng quyết định truy tố. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát là một trong những cơ sở pháp lý trong việc Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Vì vậy, để buộc tội bị cáo trước tòa, quyết định truy tố phải bảo đảm tính căn cứ và tính hợp pháp. Có nghĩa là, nội dung cơ bản của quyết định truy tố phải bảo đảm quy định tại khoản 2 Điều 461 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đó là: Quyết định truy tố ghi tóm tắt hành vi phạm tội, thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và việc xử lý vật chứng; đặc điểm nhân thân của bị can, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nêu rõ lý do và căn cứ truy tố; tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự được áp dụng; ghi rõ thời gian, địa điểm, họ tên và chữ ký của người ra quyết định.

Hình minh họa. Điều tra, truy tố và xét xử trong thủ tục rút gọn tố tụng hình sự

2.2. Trả hồ sơ điều tra bổ sung

Khi xét thấy vụ án có một trong những căn cứ được quy định tại Điều 245 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung. Những căn cứ để trả hồ sơ điều tra bổ sung gồm:

– Còn thiếu chứng cứ để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được. Những chứng cứ quan trọng là những chứng cứ dùng để xác định hành vi phạm tội, lỗi, năng lực trách nhiệm hình sự, mục đích và động cơ phạm tội, trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội.

– Có căn cứ khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác;

– Có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can;

– Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Đây là việc cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định gây xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và toàn diện của vụ án.

2.3. Tạm đình chỉ vụ án

Viện kiểm sát ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi có những căn cứ quy định tại Điều 247 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Các căn cứ để Viện kiểm sát tạm đình chỉ vụ án giống như trong các vụ án thông thường.

2.4. Đình chỉ vụ án

Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong những căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, khi có những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về việc rút yêu cầu khởi tố vụ án của người bị hại; Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 của Bộ luật Hình sự năm 2015 về trường hợp tự ý chấm dứt việc phạm tội hoặc Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015 về các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự hoặc khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 về việc miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên.

Lưu ý: trong trường hợp Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án áp dụng thủ tục rút gọn, thì Viện kiểm sát đồng thời phải ra quyết định hủy bỏ áp dụng thủ tục rút gọn vì vụ án không còn bảo đảm các điều kiện về tính chất đơn giản. Việc giải quyết vụ án sẽ tiến hành theo thủ tục chung.


3. Xét xử trong thủ tục rút gọn tố tụng hình sự

3.1. Xét xử sơ thẩm

Điều 462 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công xét xử ra một trong các quyết định:

– Đưa vụ án ra xét xử: khi xét thấy vụ án đã đầy đủ chứng cứ và các điều kiện cần thiết về mặt thủ tục, Tòa án sẽ quyết định đưa vụ án ra xét xử.

– Trả hồ sơ điều tra bổ sung: Tòa án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung khi xét thấy có căn cứ quy định tại Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (là những căn cứ quy định ở Điều 245 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã nêu ở trên). Những vấn đề cần điều tra bổ sung phải được nêu rõ trong quyết định yêu cầu điều tra bổ sung.

– Tạm đình chỉ vụ án: Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi có căn cứ quy định tại Điều 281 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

– Đình chỉ vụ án: Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án khi có những căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 282 Bộ luật Tố tụng hình sự, bao gồm những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về việc rút yêu cầu khởi tố vụ án của bị hại; các điểm 3,4,5,6 và 7 Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự; hoặc trong trường hợp Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa.

Trong trường hợp Tòa án ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án thì Tòa án đồng thời phải ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn theo Điều 458 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, vì vụ án không còn bảo đảm về tính chất đơn giản. Việc giải quyết vụ án sẽ tiến hành theo thủ tục chung.

Phiên tòa xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến hành, sau phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, Kiểm sát viên công bố quyết định truy tố. Còn lại các trình tự, thủ tục khác tại phiên tòa xét xử sơ thẩm được thực hiện theo thủ tục chung. Cần lưu ý, do một Thẩm phán tiến hành xét xử nên không nghị án.

3.2. Xét xử phúc thẩm

Xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn là một quy định hoàn toàn mới ở Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, về các điều kiện để xét xử vụ án ở cấp phúc thẩm theo thủ tục rút gọn đã được phân tích ở phần phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn.

Về việc nhận và thụ lý hồ sơ vụ án được Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện theo thủ tục chung. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án phải chuyển ngay hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 05 ngày Viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án cho Tòa án.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công xét xử ra một trong các quyết định:

– Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.

– Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án.

Trường hợp quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định, Tòa án phải mở phiên tòa xét xử vụ án.

Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định đó cho Viện kiểm sát cùng cấp, người bào chữa; giao cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ.

Phiên tòa xét xử phúc thẩm được quy định tại Điều 465 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: việc xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến hành cũng giống như xét xử sơ thẩm. Các trình tự, thủ tục khác tại phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo thủ tục chung, nhưng không tiến hành nghị án.

5/5 - (9 bình chọn)


 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại bình luận