Lý luận về nguồn gốc của nhà nước

0

1. Một số quan điểm phi mácxít về nguồn gốc nhà nước 

1.1. Thuyết thần học

Các nhà tưởng theo thuyết thần học cho rằng: Thượng đế người sắp đặt trật tự hội, Nhà nước do Thượng đế sáng tạo ra để bảo vệ trật tự chung. Do vậy, Nnước do lực lượng siêu nhiên đương nhiên quyền lực Nnước vĩnh cửu, bất biến sự phục tùng quyền lực này cần thiết tất yếu

1.2. Thuyết gia trưởng

Các nhà tưởng theo thuyết gia trưởng chứng minh rằng Nnước kết quả của sự phát triển gia đình, hình thức tổ chức tự nhiên của cuộc sống con người. vậy, nhà nước tồn tại trong mọi hội quyền lực Nhà nước về bản chất cũng giống như quyền gia trưởng của người đứng đầu gia đình.

1.3. Thuyết khế ước xã hội (thuyết hợp đồng)

Đến khoảng thế kỷ 16,17,18 đã xuất hiện hàng loạt quan niệm mới về nguồn gốc Nhà nước. Đa số các học giả tư sản đều tán thành quan điểm cho rằng sự ra đời của Nhà nước sản phẩm của một khế ước (hợp đồng) được kết trước hết gia những con người sống trong trạng thái tự nhiên không nhà nước. vậy, nhà nước phản ảnh lợi ích của các thành viên trong hội mi thành viên đều quyền yêu cầu nnước phục vhọ, bảo vệ lợi ích của họ hội. Tiêu biểu cho thuyết khế ước hội các nhà tưởng sản như Jean Bodin (15301596), Mongtetxkiơ (16891775), Jean Jaccuen Roussou (17121778).... Theo Đidoro, trong trường hợp Nhà nước không giữ được vai trò của mình , các quyền tự nhiên bị vi phạm thì khế ước sẽ bị mất hiệu lực nhân dân quyền lật đổ nhà nước kết khế ước mới. vậy, thuyết kể ước hội thật sự trở thành sở cho thuyết dân chủ cách mạng sở tưởng cho cách mạng sản, lật đổ ách thống trị phong kiến. Với ý nghĩa đó, tính cách mạng gtrị lịch sử to lớn

Nhưng học thuyết này vẫn hạn chế căn bản vẫn giải thích nguồn gốc nhà nước trên sở chủ nghĩa duy tâm, coi nhà nước thành lập do ý muốn, nguyện vng chủ quan của các bên tham gia khế ước, không giải thích được ci nguồn vật chất bản chất giai cấp của nnước

Nhìn chung, tất cả các quan niệm trên hoặc do nhận thức còn hạn chế nên không hiểu, hoặc do bị chi phối bởi lợi ích giai cấp nên cố tình giải thích sai những nguyên tắc đích thực làm phát sinh nhà nước. Đa số họ đều xem xét sự ra đời của Nhà nước tách rời những điều kiện vật chất của hội, tách rời những nguyên nhân kinh tế, chứng minh rằng nhà nước một thiết chế phải của mọi hội, theo họ, nhà nước không thuộc một giai cấp nào, nhà nước của tất cả mọi người hội văn minh mãi mãi cần nhà nước.

Hình minh họa. Lý luận về nguồn gốc của nhà nước

2. Quan điểm mácxít về nguồn gốc nhà nước 

Học thuyết MácNin coi nhà nước hiện tượng hội quá trình phát sinh, phát triển tiêu vong. Nnước một lực lượng nảy sinh từ hội, sản phẩm điều kiện của hội loài người. Nhà nước chỉ xuất hiện khi hội phát triển đến một mức độ nhất định tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự tồn tại của mất đi.

Theo hc thuyết MácLênin, chế đCộng sản nguyên thuỷ hình thái kinh tếhội xuất hiện đầu tiên trong lịch sử loài người, trong hội này không có giai cấp, không Nhà nước pháp luật, nhưng trong lòng chứa đựng những nhân tố làm nảy sinh ra Nnước pháp luật

sở kinh tế hi của chế độ công sản nguyên thuỷ là chế độ shữu công cộng về liệu sản xuất mức độ rất khai. Tương ứng với chế độ kinh tế ấy hình thức bầy người nguyên thuỷ. Trước tiên sự xuất hiện những nhóm nhỏ gồm những người du mục cùng nhau kiếm ăn tự bảo vệ , do một thủ lĩnh cầm đầu , dần dần hội loài người tiến lên một hình thức tương đối bền vững hơn, đó công thị tộc

2.1. Xã hội nguyên thủy và tổ chức thị tộc, bộ lạc

Việc sản xuất tập thể phân phối tập thể yêu cầu phải thiết lập một chế độ sở hữu công cộng của công về ruộng đất , gia súc, nhà cửa.... Thị tộc hình thức tổ chức hội đầu tiên, đặc thù của chế độ cộng sản nguyên thủy. Nó được hình thành trên sở huyết thống lao động tập thể cùng với những tài sản chung, vậy sự đoàn kết chặt chẽ kỷ luật tự giác cao.Việc quản lý công thị tộc do một trưởng đảm nhiệm, trưởng người uy tín do tất cả thành viên của thị tộc bầu lên. Lúc sự xung đột giữa các thị tộc thì mt thủ lĩnh quân sự được bầu ra để chỉ huy việc tự vệ bảo vệ thị tộc. trưởng thủ lĩnh quân sự hàng ngày cùng lao đng như các thành viên khác trong thị tộc. Họ thể bị thị tộc bãi miễn... Quyền lực của họ ng tính chất cưỡng bức nhưng hoàn toàn dựa trên uy tín sự ủng hộ của mọi thành viên trong thị tộc. Những công việc quan trọng đều do hội đồng thị tộc quyết định, còn việc thi hành thì do trưởng đảm nhiệm. Chế độ thị tộc không bộ máy cưỡng chế

Đặc điểm của hình thức tổ chức hội thị tộc

Không quyền lực tách riêng ra khỏi hội việc quản phục vụ lợi ích cả cộng đồng;

Không bộ máy cưỡng chế đặc biệt được tổ chức một cách hệ thống

Do vậy quyền lực trong hội thị tộc được coi quyền lực hội, phân biệt với quyền lực nhà nước các giai đoạn sau

Thị tộc tổ chức theo huyết thống giai đoạn đầu do những điều kiện về kinh tế hôn nhân, đặc biệt do phụ thuộc vào địa vị chủ đạo của người phụ nữ trong thị tc nên được tổ chức theo chế độ mẫu hệ. Qua quá trình phát triển của kinh tế hội, của chiến tranh đã làm thay đổi quan hệ trong hôn nhân, địa vị người phụ nữ trong thị tộc cũng thay đổi. Người đàn ông đã giữ vai trò chủ đạo dần dần trong đời sống thị tộc chế độ mẫu hệ đã chuyển dần sáng chế độ phụ hệ

Trong quá trình mở rộng quan hệ đối ngoại như liên kết chống xâm lược, trao đổi sản phẩm, các quan hệ hôn nhân ngoại tộc xuất hiện...đòi hỏi các thị tộc này phải mở rộng quan hệ với thtộc khác , dẫn đến sự xuất hiện của các bào tộc bộ lc

Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất năng suất lao động hội đã làm biến đổi tổ chức thị tộc. Nghề chăn nuôi trồng trọt không bắt buộc phải lao động tập thế, những công clao động được cải tiến dần dần những kinh nghiệm sản xuất được tích lũy tạo ra khả năng cho mọi gia đình thể tự chăn nuôi, trồng trọt một cách độc lập Do đó, nhà cửa, gia súc, công cụ lao động đã trở thành vật q thuộc tự hữu những người đứng đầu gia đình. Trong thị tộc, xuất hiện gia đình theo chế độ gia trưởng, chính đã làm rạn nứt chế độ thị tộc gia đình riêng rẽ đã trở thành lực lượng đối lập với thị tộc. Mặt kc, do năng suất lao động nâng cao, đã thúc đẩy sự phân công lao động hội. dần dần thay thế sự phân công lao động tự nhiên

2.2. Sự phân hóa giai cấp trong hội nhà ớc xuất hiện

vào thời kỳ cuối của chế độ cộng sản nguyên thủy, đã xảy ra 3 lần phần công lao động hội lớn . Sau mỗi lần, hội lại những bước tiến mới, sâu sắt hơn, thúc đẩy nhanh quá trình tan của chế độ cộng sản nguyên thủy

Sự phân công lao động lần thứ nhất dẫn đến kết quả ngành chăn nuôi tách khỏi trồng trọt: do quá trình con người biết thuần dưỡng động vật đã mở ra một kỷ nguyên mới trong sự phát triển sản xuất của li người, con người biết ch lũy tài sản dự trữ, để đảm bảo cho nhu cầu những ngày không thể ra ngoài kiếm ăn được . Đây mầm mống sinh ra chế đhữu, bởi nghchăn nuôi phát triển mạnh làm xuất hiện ngày càng nhiều các gia đình chuyển chăn nuôi dần dần chăn nuôi trở thành một ngành kinh tế độc lập, tách ra khỏi ngành trồng trọt

Con người đã tạo ra nhiều của cải hơn mức nhu cầu duy trì cuộc sống của chính bản thân họ, vậy đã xuất hiện những sản phẩm lao động thừa phát sinh ra khi năng chiếm đoạt những sản phẩm dư thừa đó. Tất cả gia đình đều chăm lo cho kinh tế riêng của mình, nhu cầu về sức lao động ngày càng tăng. Do đó, binh chiến tranh dân dần không bị giết được giữ lại làm lệ để bóc lột sức lao động. Các trưởng thủ lĩnh quân sự lợi dụng địa vị của mình chiếm đoạt nhiều gia súc, đất đai, chiến lợi phẩm binh sau các cuộc chiến tranh thắng lợi. Quyền lực của thị tộc giao cho họ trước đây được đem sử dụng vào việc bảo vệ lợi ích riêng của họ. Họ bắt lệ những người nghèo khổ phải phục tùng ho. Quyền lực ấy được duy trì theo kiểu cha truyền con nối. Các tổ chức thị tộc, bộ lạc dần tách ra khỏi dân , biến thành các quan thống trị, bạo lực, phục vụ cho lợi ích của những người giàu . Một nhóm người thân cận được hình thành bên cạnh người cầm đầu thị tộc, bộ lạc. Lúc đầu họ chỉ vệ binh, sau đó được hưởng những đặc quyền, đặc lợi. Đây mầm mống của đội quân thường trực sau này

Sau lần phân công hội đầu tiên, chế độ hữu đã xuất hiện, hội phân chiangười giàu, kẻ nghèo. Chế độ hôn nhân cũng thay đổi, từ quần hồn biến thành chế độ một vợ, một chồng

Sự phân công lao động lần thứ hai: Ngành tiểu thủ công nghiệp cũng phát triển để đảm bảo cung ứng các nhu cầu về công cụ lao động và đồ dùng sinh hoạt trong các gia đình, đặc biệt sau khi loài người tìm ra kim loại như đồng, sắt...đã tạo ra khả năng thể trồng trọt diện tích rộng hơn, lớn hơn, khai hoang những miền rừng , nghề gốm, dệt, chế tạo các công cụ lao động khác...tạo ra nhiều sản phẩm ngày càng hoàn hảo. Từ đó xuất hiện một nhóm người chuyên làm nghề tiểu thủ công nghiệp tách ra khỏi sản xuất nông nghiệp. Như vậy, kết quả phân công lần thứ hai, thủ công nghiệp đã tách ra khỏi nông nghiệp

Sự phân công lao đng lần thứ ba: Do sự phân công lao đng hội nên giữa các khu vực sản xuất, giữa các khu vực dân xuất hiện nhu cầu trao đổi sản phẩm nền sản xuất hàng hoá ra đời. Thương nghiệp phát triển mạnh dẫn đến phân công lao động lần thứ ba. Những người buôn bán trao đổi chuyên nghiệp tách ra khỏi những hoạt động sản xuất. Đây lần phân công lao động ý nghĩa quan trọng: chính làm này sinh một giai cấp không tham gia vào quá trình sản xuất nữa, chỉ làm công đổi sản phẩm, họ những người nắm giữ quyền điều hành sản xuất , bắt những người sản xuất phthuộc vào mình về mặt kinh tế, họ bóc lột cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng

Chính sự phát triển thương mại, buôn bán đã xuất hiện đồng tiền, kéo theo sự xuất hiện của nạn cho vay nặng lãi, hoạt động cầm cố tài sản chế độ hữu về ruộng đất. Các yếu tnày đã thúc đẩy nhanh quá trình tích ttập trung của cải vào tay một số người ít người giàu, đng thời cũng thúc đẩy sự bần cùng hoá làm tăng nhanh đám dân nghèo, từ đó sinh ra mâu thuẫn đối kháng, đấu tranh giai cấp, làm cho cuộc sống thị tộc bị đảo lộn

Những hoạt động buôn bán, trao đổi, chế đnhượng quyền sở hữu về đất đai , sự thay đổi chỗ nghề nghiệp đã phá vỡ cuộc sống định cư của thị tộc. Trong thị tộc không còn khả năng phân chia dân theo huyết thống. đòi hỏi phải một tchức để quản dân theo lãnh thổ hành chính. Việc sử dụng những tập quán và tín điều tôn giáo không thể bảo đảm cho mọi người tự giác chấp hành. Để bảo vệ quyền lợi, đặc biệt quyền sở hữu tài sản của tầng lớp những người giàu , họ đã liên kết với nhau để thiết lập một hình thức tổ chức quản mới , đó một tchức đông đảo những người được trang để đảm bảo sức mạnh cưỡng chế, để dập tắt sức mạnh phản kháng, tổ chức đó chính nhà nước

Như vậy, nhà nước đã xuất hiện một cách khách quan, sản phẩm của hội phát triển đến một giai đoạn nhất định. Nnước không phải một quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào hội, một lực lượng nảy sinh bên trong lòng hội, nhưng lại đứng lên trên hội, nhiệm vụ làm dịu sự xung đột giữ sự xung đt đó m trong vòng trật tự. Nhà nước thiết lập quyền lực công cộng phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị, hình thành bộ máy cưỡng chế tổ chức thi tộc được chuyển hoá từng bước thành tổ chức hành chính lãnh thổ. Giai cấp thống trị đã dùng quyền lực mình để đặt ra các loại thuế, bắt mọi công dân đóng để nuôi dưỡng bộ máy cai trị thực chất chỉ phục vụ cho giai cấp thống trị. Nhà nước ngày càng đối lập với hội, không được mọi công dân tự giác tuân theo mệnh lệnh phải sử dụng một thứ công cụ đặc biệt , phương pháp cưỡng chế Nhà nước phải sử dụng một loại phương tiện hội trước đó chưa biết đến, đó pháp luật

Từ những vấn đề trên, chúng ta thể định nghĩa nhà nước như sau: Nhà nước một tchức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vcưỡng chế thực hiện chức năng quản lý đặc biệt, nhằm thực hiện những mục đích bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong hội

5/5 - (9 bình chọn)

 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại bình luận

Đây là nơi để trao đổi ý kiến bài viết hoặc yêu cầu download tài liệu. 

Một số lưu ý:

- Địa chỉ email bạn cung cấp tại trường "Email của bạn" sẽ không được công khai. (Không khuyến khích để lại thông tin email tại trường "Bình luận của bạn")

- KHÔNG sử dụng ngôn từ thiếu văn hoá, khiêu dâm, đe dọa, lăng nhục hay xúc phạm cá nhân, đơn vị hay tổ chức khác hoặc bình luận mang tính chất spam.