Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn

0

Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ trao đổi, tác động lẫn nhau để hình thành nên hoạt động sản xuất vật chất, phản ánh mặt tinh thần và thực tiễn xã hội. Vậy, lý luận có vai trò gì đối với thực tiễn?


1. Khái quát chung về lý luận

Lý luận là một hệ thống các quan điểm phản ánh thực tiễn, được thể hiện dưới dạng hệ thống những tri thức đã được khái quát, tạo ra những quan niệm tương đối hoàn chỉnh về các mối liên hệ cơ bản và các quy luật của hiện thực khách quan. Hay nói cách khách, lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn có tác dụng chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Lý luận đặc thù của một nhóm ngành như lý luận khoa học xã hội. Lý luận phân theo phạm vi phản ánh và vai trò phương pháp luận gồm có lý luận ngành, lý luận cơ bản,…

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, mọi lý luận chân chính đều bắt nguồn từ thực tiễn, phản ánh thực tiễn và phục vụ thực tiễn. Như vậy, lý luận đóng vai trò rất quan trọng trong tiến trình vận động, hình thành nên các sản phẩm của lý luận trên thực tiễn, do đó lý luận gồm những đặc trưng cơ bản sau: Một là, lý luận có tính hệ thống, tính khái quát cao, tính logic chặt chẽ; Hai là, cơ sở của lý luận là những tri thức kinh nghiệm thực tiễn, không có tri thức kinh nghiệm thực tiễn thì không có cơ sở để khái quát thành lý luận; Ba là, lý luận xét về bản chất có thể phản ánh được bản chất, hiện tượng.


 2. Khái quát chung về thực tiễn

Theo triết học Mác – Lênin, thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử – xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người.

Phạm trù thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng cơ bản, không chỉ của lý luận nhận thức Mác-xít mà còn của toàn bộ triết học Mác – Lênin nói chung. Hoạt động thực tiễn là quá trình con người sử dụng công cụ phương tiện vật chất, sức mạnh vật chất tác động vào tự nhiên xã hội để cải tạo làm biến đổi cho phù hợp với nhu cầu của mình. Hoạt động thực tiễn là quá trình tương tác giữa chủ thể và khách thể trong đó chủ thể hướng vào việc cải tạo khách thể trên cơ sở đó nhận thức khách thể, vì vậy có thể thực tiễn bao gồm những đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, thực tiễn là hoạt động có mục đích của con người: thực tiễn hay chính là hoạt động bản chất của con người, có con người mới có thực tiễn, bởi con người hoạt động có mục đích rõ ràng nhằm cải tạo thế giới để thoả mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ động với thế giới xung quanh. Đối với hoạt động thực tiễn, con người biết sản xuất lao động, tạo ra những vật phẩm vốn không có sẵn trong tự nhiên.

Thứ hai, thực tiễn là hoạt động mang tính lịch sử – xã hội: thực tiễn tồn tại dưới dạng hoạt động cơ bản và phổ biến của xã hội loài người mặc dù trình độ và các hình thức hoạt động thực tiễn có những thay đổi qua các giai đoạn lịch sử.


3. Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn

Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ trao đổi, tác động lẫn nhau để hình thành nên hoạt động sản xuất vật chất, phản ánh mặt tinh thần và thực tiễn xã hội. Có thể nhận thấy, thực tiễn là cơ sở, động lực của lý luận. Hay nói cách khác, thực tiễn là cung cấp cho lý luận những mục tiêu, chuẩn hoá lý luận. Song, thực tiễn cung cấp chất liệu để hoàn thành lý luận, thông qua thực tiễn, lý luận được hoàn thiện, sinh động hoá – hiện thực hoá hơn.

Về vai trò của thực tiễn đối với lý luận: (i) Thực tiễn là cơ sở của lý luận: thông qua hoạt động thực tiễn những thuộc tính, quan hệ, tính chất, cấu trúc của sự vật được phản ánh, hình thành tri thức kinh nghiệm. Từ tri thức kinh nghiệm tích lũy được con người hệ thống hoá, khái quát hóa hình thành nên lý luận. (ii) Thực tiễn còn là mục đích của lý luận: Lý luận không chỉ đáp ứng nhu cầu nhận thức mà còn góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động thực tiễn của con người, lý luận chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vào thực tiễn và cải tạo thực tiễn. Vì vậy, thực tiễn là mục tiêu hướng tới của hoạt động lý luận. (iii) Thực tiễn còn là động lực chủ yếu và trực tiếp của lý luận: Nhu cầu thực tiễn thúc đẩy sự ra đời và phát triển của lý luận, thông qua thực tiễn những bế tắc của lý luận sẽ phát triển; thực tiễn làm cho xã hội ngày càng phát triển, năng lực trí tuệ ngày càng cao hơn, khả năng nhận thức và khái quát lý luận ngày càng tốt hơn, qua đó mỗi hệ thống lý luận ngày càng hoàn thiện và phát triển. (iv) Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra sự phù hợp hay không phù hợp của lý luận: Thông qua thực tiễn để đánh giá tính mục đích và tính hiệu quả của lý luận có thực hiện được hay không. Vì vậy, thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra tính đúng đắn của lý luận.

Hình minh họa. Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn

4. Vai trò của lý luận đối với thực tiễn

4.1. Lý luận là “kim chỉ nam” soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo hoạt động thực tiễn

Bởi vì lý luận nắm bắt được quy luật vận động và phát triển của hiện thực. Do đó, lý luận giúp cho việc xác định được mục tiêu, phương hướng, làm cho hoạt động trở nên chủ động, tự giác, hạn chế tình trạng mò mẫm, tự phát và điều chỉnh hoạt động theo đúng mục tiêu đã xác định và vạch ra phương hướng mới cho sự phát triển của thực tiễn.

Lý luận được hình thành và phát triển trên nền tảng thực tiễn nhưng lý luận có tính độc lập tương đối so với thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”. Lý luận hình thành là kết quả của quá trình nhận thức lâu dài và khó khăn của con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn tuy đa dạng nhưng không có tính quy luật. Thông qua kết quả hoạt động thực tiễn, kể cả thành công cũng như thất bại, con người phân tích cấu trúc, tính chất và các mối quan hệ của các yếu tố, điều kiện trong các hình thức thực tiễn từ đó tính quy luật của thực tiễn được khái quát dưới hình thức lý luận.

4.2. Lý luận góp phần phát huy tối đa sức mạnh của cộng đồng trong hoạt động thực tiễn

Lý luận được vận dụng làm phương pháp cho hoạt động thực tiễn, mang lại lợi ích cho con người càng kích thích con người tích cực bám sát thực tiễn để khái quát lý luận. Lý luận làm rõ vị trí, vai trò, lợi ích của chủ thể. Quá trình đó diễn ra không ngừng trong sự tồn tại của con người, làm cho lý luận ngày càng đầy đủ và phong phú và sâu sắc hơn. Từ đó, lý luận không chỉ là sự giải thích thế giới ngày một rõ hơn mà còn giúp con người hiểu thêm về ý nghĩa của thế giới đem lại mà không ngừng cải tạo thế giới. Lý luận không chỉ mở rộng khả năng nhìn thấy trước, dự báo tương lai, mà lý luận khoa học còn bao hàm cả ý nghĩa tự giác hình thành cái tương lai đó. Khi lý luận thâm nhập vào quần chúng, thông qua phong trào của quần chúng trở thành sức mạnh vật chất.

Lý luận có vai trò giác ngộ mục tiêu, lý tưởng, xác định phương pháp, biện pháp thực hiện, liên kết, tập hợp lực lượng tạo thành sức mạnh to lớn cải tạo tự nhiên, xã hội vì sự phát triển của các cá nhân và xã hội. Lý luận cách mạng có vai trò to lớn trong việc giáo dục, thuyết phục, động viên, tổ chức, tập hợp quần chúng khi đã thâm nhập vào quần chúng trở thành lực lượng vật chất to lớn, cải tạo tự nhiên, xã hội vì sự phát triển của con người và xã hội.

Vai trò này của lý luận được thể hiện rõ nét ở nước ta điển hình như những đòi hỏi của đất nước cần phải thay đổi định hướng phát triển kinh tế – xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã tổng kết lại kinh nghiệm và tiếp tục nghiên cứu đưa ra để thực hiện một số vấn đề có tính lý luận về nền kinh tế thị trường như sau: Phải tiếp tục thực hiện một cách nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần; Giữ vững và tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; Giải quyết các vấn đề xã hội, hướng vào phát triển và lành mạnh hóa xã hội, thực tiễn công bằng xã hội. Những lý luận này được xem như giải pháp để nền kinh tế thị trường của nước ta được hoàn thiện hơn và cũng là những vấn đề đòi hỏi thực tiễn cần phải đặt ra và phải được thực hiện.

4.3.  Lý luận chỉ ra phương pháp tiến hành hoạt động thực tiễn

Bởi vì lý luận được tóm tắt trong phương pháp. Từ một hệ thống lý luận rút ra các nguyên tắc chỉ đạo và điều chỉnh hoạt động thực tiễn. Lý luận khoa học sẽ cho phương pháp khoa học có hiệu quả. Xuất phát từ khả năng tư duy ưu việt của con người mà bản chất, tính quy luật trong sự vận động, phát triển của thực tiễn được con người nắm bắt. Nắm quy luật thực chất là nắm các mối quan hệ bản chất, tất yếu, quyết định chiều hướng vận động, phát triển của thực tiễn. Khi thực tiễn đang vận động, đang phát triển đến một giai đoạn nhất định, bằng việc sử dụng lý luận mà con người có khả năng dự báo trước được sự vận động, phát triển của thực tiễn trong tương lai. Lý luận khoa học dự kiến sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng trong tương lai, từ đó chỉ ra phương hướng mới cho sự phát triển.


5. Những sai lầm khi không nhận thức đúng vai trò của lý luận

Một là, đánh giá thấp vai trò của lý luận dẫn đến bệnh kinh nghiệm. Bệnh kinh nghiệm là khuynh hướng tư tưởng tuyệt đối hóa kinh nghiệm, coi thường lý luận khoa học. Biểu hiện: Thỏa mãn với vốn kinh nghiệm của bản thân, ngại học lý luận, không chịu khó nâng cao trình độ lý luận; Tiếp xúc với lý luận ở trình độ tư duy kinh nghiệm từ đó đơn giản hóa, thông tục hóa, kinh nghiệm hóa lý luận, cố gắng “đẽo gọt” lý luận cho vừa với khuôn khổ, kích thước kinh nghiệm của mình; coi thường lý luận, không tin vào lý luận và không chịu khó vận dụng lý luận vào thực tiễn.

Hai là, cường điệu hoá lý luận dẫn đến bệnh giáo điều. Bệnh giáo điều là khuynh hướng tư tưởng cường điệu hóa vai trò của lý luận, coi nhẹ thực tiễn, tách rời lý luận khỏi thực tiễn, thiếu quan điểm lịch sử – cụ thể. Biểu hiện: Nắm lý luận chỉ dùng ở câu chữ theo kiểu “tầm chương trích cú”, không nắm được thực chất khoa học của lý luận, không tiêu hóa được kiến thức sách vở; Coi những nguyên lý, lý luận như những tín điều, không thấy được sức sống của lý luận là ở chỗ phải luôn sửa đổi, bổ sung, phát triển trên cơ sở thực tiễn mới; Vận dụng lý luận và những kinh nghiệm đã có một cách rập khuôn, máy móc, không tính đến điều kiện lịch sử – cụ thể, đến trình độ của thực tiễn.

Ba là, sai lệch trong nhận thức về chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết khoa học, là cơ sở cho nhận thức đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi áp bức, bóc lột, bất công. Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện thực tế của nước ta. Đảng đã vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh đưa đất nước phát triển và đạt được thành tựu to lớn.

Bốn là, sai lệch trong nhận thức về chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chủ trương, đường lối của Đảng là hình thức lãnh đạo cao nhất và tập trung nhất của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.

Năm là, nghiên cứu, học tập lý luận không gắn với thực tiễn. Việc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Trong nghiên cứu, học tập lý mà tách rời thực tiễn là một sai lệch lớn, làm giảm ý nghĩa và tầm quan trọng của lý luận. Lý luận khoa học phải được hình thành trên cơ sở thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, bằng con đường tổng kết thực tiễn.

Sáu là, không nhận thức được trách nhiệm của hoạt động lý luận trong đấu tranh tư tưởng. Đấu tranh tư tưởng là nhiệm vụ quan trọng của hoạt động lý luận hiện nay. Trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước đạt được thành tựu to lớn thì việc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, chống “diễn biến hòa bình” và những thoái hóa, biến chất trong nội bộ có vai trò rất quan trọng.

5/5 - (1 bình chọn)

 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại bình luận