Một số quy định chung về truy tố vụ án hình sự

0

1. Nhận hồ sơ vụ án

Khi kết thúc điều tra, nếu có đầy đủ chứng cứ để xác định có tội phạm và bị can thì Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố.

Toàn bộ hổ sơ vụ án được Cơ quan điều tra giao cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra bản kết luận điều tra, hoặc kể từ khi ra quyết định đề nghị truy tố đối với trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn.

Khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giao hồ sơ vụ án kèm theo bản kết luận điều tra đề nghị truy tố và vật chứng (nếu có) thì Viện kiểm sát phải kiểm tra và xử lý như sau: Trường hợp tài liệu trong hồ sơ vụ án, vật chứng kèm theo (nếu có) đã đầy đủ so với bản kê tài liệu, vật chứng và bản kết luận điều tra đã được giao cho bị can hoặc người đại diện của bị can thì nhận hổ sơ vụ án; trường hợp tài liệu trong hồ sơ vụ án, vật chứng kèm theo (nếu có) không đủ so với bản kê tài liệu, vật chứng hoặc bản kết luận điều tra chưa được giao cho bị can hoặc người đại diện của bị can thì chưa nhận hổ sơ vụ án và yêu cẩu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra bổ sung tài liệu, vật chứng; yêu cầu giao bản kết luận điều tra cho bị can hoặc người đại diện của bị can.

Việc giao, nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và đưa vào hổ sơ vụ án.

Hình minh họa. Một số quy định chung về truy tố vụ án hình sự

2. Nghiên cứu hồ sơ

Trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong các quyết định: Truy tố bị can trước Tòa án; trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can.

Trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn thời hạn quyết định việc truy tố nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Pháp luật tố tụng hình sự quy định thời hạn để Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ có sự khác nhau giữa các loại tội phạm cụ thể. Điều này đặt trách nhiệm cho Viện kiểm sát sau khi nhận hồ sơ vụ án phải nhanh chóng tiến hành việc nghiên cứu hổ sơ để đưa ra những quyết định tố tụng cần thiết.

Trường hợp cần thiết như vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp, có nhiều tài liệu trong hồ sơ cần phải thêm thời gian để nghiên cứu thì Kiểm sát viên đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát gia hạn thêm nhưng phải tuân thủ đúng thời hạn gia hạn luật định.

Khi nghiên cứu hổ sơ, Kiểm sát viên cần xác định những vấn đề sau:

  • Vụ án có thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát cấp mình hay không;
  • Phân loại tội phạm để xác định thời hạn nghiên cứu hồ sơ;
  • Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;
  • Cần nhập hay tách vụ án;
  • Việc điều tra đã tuân thủ đúng pháp luật chưa;
  • Có hay không căn cứ để trả hồ sơ điều tra bổ sung;
  • Có hay không căn cứ tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án;
  • Có đủ căn cứ để quyết định truy tố bị can hay chưa…

Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án phải kỹ lưỡng, toàn diện, khách quan, tránh tâm lý một chiểu, chỉ tập trung vào những chứng cứ mang tính buộc tội đối với bị can, để từ đó đưa ra những quyết định tố tụng đúng đắn.


3. Thẩm quyền truy tố

Viện kiểm sát cấp nào thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát cấp đó quyết định việc truy tố. Thẩm quyền truy tố của Viện kiểm sát được xác định theo thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với vụ án.

Qua đó, khi xác định theo thẩm quyền xét xử, vụ án thuộc thẩm quyền truy tố của Viện kiểm sát nhân dân hay Viện kiểm sát quân sự căn cứ vào Điều 272 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; vụ án thuộc thẩm quyền truy tố của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực hay thuộc thẩm quyền truy tố của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự quân khu căn cứ vào Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; vụ án thuộc thẩm quyền truy tố của Viện kiểm sát địa phương nào được xác định theo thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ tại Điều 269 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bên cạnh đó, khi tội phạm xảy ra trên tàu bay, tàu biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc ngoài lãnh hải của Việt Nam, thì thẩm quyền truy tố được xác định tại Điều 270 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; hoặc khi bị cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền của các cấp khác nhau thì thẩm quyền truy tố được xác định tại Điều 271 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của mình, Viện kiểm sát ra ngay quyết định chuyên vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền. Việc chuyển vụ án cho Viện kiểm sát ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc ngoài phạm vi quân khu do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu quyết định.

Đối với vụ án do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát cấp trên quyết định việc truy tố. Chậm nhất là 02 tháng trước khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát cấp trên phải thông báo cho Viện kiểm sát cấp dưới cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án để cử Kiểm sát viên tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án. Ngay sau khi quyết định truy tố, Viện kiểm sát cấp trên ra quyết định phân công cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyển công tố và kiểm sát xét xử; sau khi nhận được hổ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng, Viện kiểm sát cấp dưới có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định chuyên vụ án, Viện kiểm sát phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đã kết thúc điều tra vụ án, bị can hoặc người đại diện của bị can, người bào chữa, bị hại, người tham gia tố tụng khác.

Việc giao, gửi hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 240 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong trường hợp này, thời hạn truy tố được tính từ ngày Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố nhận được hồ sơ vụ án.

5/5 - (10 bình chọn)

 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại một bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công khai.