Quy định về tuyển dụng công chức

0

1. Các phương thức tuyển dụng công chức

Tuyển dụng công chức là một hoạt động của Nhà nước dựa trên cơ sở những quy định của pháp luật, các cơ quan nhà nước có nhu cầu tiến hành lựa chọn những người thích hợp để tuyển vào cơ quan nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan nhà nước. Trong lịch sử phát triển của nước ta cũng như trên thế giới, có nhiều phương thức tuyển dụng khác nhau, mỗi phương thức tuyển dụng có những ưu điểm và nhược điểm nhất định.

1.1. Phương thức tuyển dụng thẳng (xét tuyển)

Đây là phương thức tuyển dụng không thông qua thi tuyển, các công sở nhà nước sau khi xây dựng kế hoạch tuyển dụng công chức cho các ngạch công chức với số lượng cụ thể và được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt. Căn cứ vào chỉ tiêu biên chế được duyệt, cơ quan tuyển chọn công chức vào làm việc. Ở nước ta cho đến trước khi có Pháp lệnh Cán bộ, công chức (năm 1998) thì đây là phương thức tuyển dụng chủ yếu. Tuy nhiên, phương thức tuyển dụng này có rất nhiều hạn chế.

Thứ nhất: Việc tuyển dụng thường căn cứ vào hồ sơ, văn bằng, chứng chỉ, nhưng nhiều trường hợp hồ sơ không phản ánh đúng năng lực, trình độ của người được tuyển.

Thứ hai: Việc tuyển dụng thẳng thường thông qua Hội đồng xét tuyển, chính vì vậy, nhiều khi không khách quan, khó tránh khỏi hiện tượng cảm tình nể nang, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lợi dụng sự quen biết để đưa con em không đủ tiêu chuẩn vào làm việc trong cơ quan nhà nước.

Thứ ba: Việc xét tuyển không thể thực hiện được nguyên tắc tuyển dụng theo tài năng.

Từ những sự hạn chế đó dẫn đến công tác tuyển dụng công chức ở nước ta trước khi có Pháp lệnh Cán bộ, công chức (năm 1998) có nhiều hạn chế; tồn tại trường hợp người được tuyển dụng không đáp ứng nhu cầu công việc hoặc tuyển dụng trái ngành, trái nghề sau đó phải đào tạo lại theo yêu cầu công việc, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu lực quản lý nhà nước.

Hiện nay, việc xét tuyển vẫn được áp dụng trong một số trường hợp, cụ thể:

“Việc tuyển dụng công chức thông qua xét tuyển được thực hiện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức đối với từng nhóm đối tượng sau đây:

a) Cam kết tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn;

b) Người học theo chế độ cử tuyển theo quy định của Luật giáo dục, sau khi tốt nghiệp về công tác tại địa phương nơi cử đi học;

c) Sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, nhà khoa học trẻ tài năng”.

1.2. Phương thức thi tuyển

Đây là phương thức phổ biến nhất mà nhiều quốc gia trên thế giới ngày nay áp dụng. Phương thức này vừa bảo đảm công vụ vừa mang tính khách quan, bảo đảm công bằng trong tuyển dụng công chức. Ở nước ta, việc thi tuyển công chức bắt đầu thực hiện từ năm 1993, nhưng đến năm 1995 mới có văn bản quy định về vấn đề này (Nghị định số 25/CP ngày 23/5/1995 của Chính phủ về quy định tạm thời chế độ tiền lương mới của công chức, viên chức hành chính sự nghiệp và lực lượng vũ trang và hông tư số 32/TCCB-BCTL ngày 20/01/1996 của Ban Tổ chức – cán bộ Chính phủ hướng dẫn nội dung và hình thức thi tuyển vào các ngạch công chức – viên chức). Tuy nhiên việc thi tuyển ở giai đoạn này chưa phổ biến, mới chỉ áp dụng trong một số lĩnh vực như giáo dục, ngân hàng, bưu điện v.v.. Nội dung chương trình thi tuyển cũng chưa được thống nhất. Phải đến khi Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 ra đời và được Chính phủ cụ thể hóa bằng Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức thì việc thi tuyển mới trở thành một quy định có tính bắt buộc trong việc tuyển dụng công chức. Tại Điều 23 Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2003) quy định: Người được tuyển dụng phải có phẩm chất đạo đức, đúng với tiêu chuẩn nghiệp vụ và thông qua thi tuyển theo quy định của pháp luật.

Để việc thi tuyển đảm bảo tính khách quan công bằng, tạo điều kiện cho mọi công dân đều có cơ hội gia nhập công vụ, cần phải xây dựng một quy trình thi tuyển chặt chẽ.

1.3. Phương thức tiếp nhận người đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện của vị trí việc làm

Đây là phương thức tuyển dụng mới được quy định trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019. Theo quy định tại khoản 5 Điều 1 (sửa đổi khoản 3 Điều 37 Luật Cán bộ, công chức năm 2008):

“Người đứng đầu cơ quan quản lý công chức quyết định tiếp nhận người đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện của vị trí việc làm vào làm công chức đối với trường hợp sau đây:

– Viên chức công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập;

– Cán bộ, công chức cấp xã;

– Người hưởng lương trong lực lượng vũ trang nhân dân, người làm việc trong tổ chức cơ yếu nhưng không phải là công chức;

– Tiếp nhận để bổ nhiệm làm công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đối với người đang là Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, hành viên Hội đồng thành viên, hành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng và người đang giữ chức vụ, chức danh quản lý khác theo quy định của Chính phủ trong doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; người được tiếp nhận phải được quy hoạch vào chức vụ bổ nhiệm hoặc chức vụ tương đương;

– Người đã từng là cán bộ, công chức sau đó được cấp có thẩm quyền điều động, luân chuyển giữ các vị trí công tác không phải là cán bộ, công chức tại các cơ quan, tổ chức khác.

– Các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này được xem xét tiếp nhận vào làm công chức nếu không trong thời hạn xử lý kỷ luật, không trong thời gian thực hiện các quy định liên quan đến kỷ luật quy định tại Điều 82 của Luật này; các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 3 Điều này còn phải có đủ 05 năm công tác trở lên phù hợp với lĩnh vực tiếp nhận”.

Hình minh họa. Quy định về tuyển dụng công chức

2. Nguyên tắc tuyển dụng công chức ở Việt Nam

2.1. Nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật

Xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta: “nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” việc tham gia công vụ là quyền lợi của mọi công dân trong xã hội. Điều đó đã định rõ trong Hiến pháp năm 2013 và Luật Cán bộ, công chức. Công vụ là công việc chung, không chỉ dành riêng cho một số người, một số tầng lớp hoặc một giai cấp nhất định mà phải là sự nghiệp của toàn dân. Do đó, cần tạo điều kiện để mọi người có nhu cầu và đủ điều kiện đều có cơ hội ngang nhau, đều được tự do gia nhập vào công vụ. Để thực hiện được mục tiêu đó, trước tiên phải bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch, dân chủ, công bằng khi tuyển dụng công chức vào bộ máy.

Các công sở hoặc các cơ quan chức năng thực hiện việc tuyển dụng căn cứ vào kế hoạch tuyển dụng đã được xét duyệt, công bố công khai những yêu cầu, tiêu chuẩn, thời gian xét chọn và những điều kiện ràng buộc để bất cứ ai có nhu cầu và hội đủ các điều kiện có thể ứng tuyển.

Khi xét chọn, phải thành lập hội đồng công khai và bảo đảm tính khách quan trong tuyển lựa công chức. Đồng thời, phải chống tình trạng tùy tiện, lạm dụng chức quyền để đưa con cháu, người thân vào làm việc mà không tính đến tiêu chuẩn, hoặc dùng tiền bạc hối lộ những người có trách nhiệm để biến việc tuyển dụng thành quan hệ mua bán.

2.2. Nguyên tắc bảo đảm tính cạnh tranh

Để có những công chức có đầy đủ năng lực đảm bảo thực thi tốt công vụ và do mỗi ngạch công chức có những yêu cầu nhất định về chuyên môn, nên việc tuyển dụng công chức phải tiến hành qua thi tuyển.

Việc thi tuyển và thi nâng ngạch cần tổ chức theo định kỳ hàng năm để các công chức ở các ngạch thấp có đủ điều kiện có thể thi lên ngạch cao hơn, cũng có thể tổ chức từng lần đối với việc tuyển dụng người mới vào bộ máy nhà nước.

Thi tuyển để chọn người vào làm việc trực tiếp đối với những công việc chuyên môn nghiệp vụ như kế toán, thư ký, kỹ thuật, giáo viên, bác sĩ v.v. thí sinh phải có những điều kiện theo quy định về văn bằng, sức khỏe, tuổi tác v.v. trước khi ứng tuyển.

Những người trúng tuyển kỳ thi tuyển dụng vào công vụ thì trở thành công chức.

Thi tuyển được thực hiện trong các trường hợp:

– Thứ nhất, khi thi tuyển các công chức ngạch thấp và công chức chuyên môn: các công sở có nhu cầu tuyển dụng các công chức chuyên môn như văn thư, kế toán, kỹ thuật hoặc các công chức phục vụ, lao động v.v. theo chỉ tiêu đã được duyệt, có thể tổ chức các kỳ thi để trực tiếp tuyển chọn.

– Thứ hai, thi để tuyển dụng công chức ngạch cao: kỳ thi này thường do các cơ quan chuyên trách về quản lý công chức thực hiện. hí sinh là những công chức ở ngạch thấp hội đủ các điều kiện cần thiết thi lên ngạch cao hơn, hoặc những người có năng lực, chưa gia nhập công vụ hay đã gia nhập công vụ nhưng chưa có vị trí xứng đáng muốn thi vào ngạch cao phù hợp với trình độ của mình.

– Thứ ba, thi để lấy chứng chỉ từng phần: do các ngạch công chức đòi hỏi trình độ nhất định được thể hiện qua văn bằng, chứng chỉ, nhưng trên thực tế có những công chức không thể một lúc đạt được những chứng chỉ cần thiết. Công chức có thể học dưới nhiều hình thức như tại chức, chuyên tu, tập trung từng đợt ngắn hạn để lấy các chứng chỉ, khi có đủ các chứng chỉ cần thiết cho một văn bằng, công chức có thể được chuyển ngạch.

2.3. Tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm

Người được tuyển dụng phải có văn bằng, chứng chỉ, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tương ứng, phù hợp với ngạch, bậc được tuyển dụng; phải đáp ứng các điều kiện của vị trí công tác.

2.4. Nguyên tắc ưu tiên tuyển chọn người có tài năng, người có công với cách mạng, gia đình chính sách, người dân tộc thiểu số

Bên cạnh nguyên tắc dân chủ, công bằng, việc tuyển dụng công chức ở nước ta còn dựa trên nguyên tắc ưu tiên. hực chất ưu tiên trong thi tuyển cũng là để đảm bảo sự công bằng, những người được ưu tiên là những người có công với cách mạng, những gia đình chính sách, cụ thể theo Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức và Nghị định số 161/2018/NĐ-CP ngày 29/11/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập thì những đối tượng sau đây sẽ được ưu tiên trong thi tuyển:

– Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B: được cộng 7,5 điểm vào kết quả điểm thi tại vòng 2;

– Người dân tộc thiểu số, sĩ quan quân đội, sĩ quan công an, quân nhân chuyên nghiệp, người làm công tác cơ yếu chuyển ngành, con liệt sĩ, con thương binh, con bệnh binh, con của người hưởng chính sách như thương binh, con của thương binh loại B, con của người hoạt động cách mạng trước tổng khởi nghĩa (từ ngày 19/8/1945 trở về trước), con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, con Anh hùng Lực lượng vũ trang, con Anh hùng Lao động: được cộng 5 điểm vào kết quả điểm thi tại vòng 2;

– Người hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ phục vụ có thời hạn trong lực lượng công an nhân dân, đội viên thanh niên xung phong, đội viên trí thức trẻ tình nguyện tham gia phát triển nông thôn, miền núi từ đủ 24 tháng trở lên đã hoàn thành nhiệm vụ: được cộng 2,5 điểm vào kết quả điểm thi tại vòng 2.

Trường hợp người dự thi tuyển hoặc dự xét tuyển công chức thuộc nhiều diện ưu tiên thì chỉ được cộng điểm ưu tiên cao nhất vào kết quả điểm thi tại vòng 2.


3. Những điều kiện đăng ký dự tuyển công chức

Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Nghị định số 24/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức và Nghị định số 161/2018/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, điều kiện để một người đăng ký dự tuyển công chức được quy định như sau:

Cơ quan sử dụng công chức xác định các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí dự tuyển quy định tại điểm g khoản 1 Điều 36 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) nhưng không được trái với quy định của pháp luật, không được phân biệt loại hình đào tạo, văn bằng, chứng chỉ, trường công lập, trường ngoài công lập và báo cáo cơ quan quản lý công chức phê duyệt trước khi tuyển dụng.

3.1. Điều kiện về quốc tịch

Người muốn gia nhập công vụ phải có một quốc tịch Việt Nam, là công dân Việt Nam đang thường trú tại Việt Nam, điều này xuất phát từ tính chất của nền công vụ của Nhà nước ta, đó là nền công vụ thực thi nhiệm vụ chính trị. Vì vậy, công chức chịu sự ràng buộc về chính trị, để phục vụ cho hoạt động chính trị, có trách nhiệm với sự nghiệp của Quốc gia nên họ phải là người Việt Nam, mang quốc tịch Việt Nam; điều kiện này vừa thể hiện tính chính trị, tính bổn phận, vừa xuất phát từ tình cảm dân tộc, trách nhiệm đối với đất nước. Không riêng gì chúng ta, mà nhiều nước trên thế giới trong quy chế của mình cũng đều nêu rõ điều kiện quốc tịch. Sở dĩ như vậy là vì trong thời đại ngày nay, việc di chuyển dân giữa các nước đã trở nên phổ biến, việc thay đổi quốc tịch để công dân nước này thành công dân một nước khác không phải là một vấn đề quá khó khăn, phức tạp.

3.2. Điều kiện về độ tuổi

Theo quy định của pháp luật hiện hành, tuổi gia nhập công vụ được quy định từ đủ 18 tuổi; việc quy định độ tuổi tuyển dụng tối thiểu phải đủ 18 tuổi thể hiện sự ràng buộc về mặt pháp lý đối với công chức, nếu một người dưới 18 tuổi tức là người chưa thành niên thì không thể chịu trách nhiệm pháp lý khi thi hành công vụ trước Nhà nước. Mặt khác, công chức là người đại diện Nhà nước, nhân danh Nhà nước để tham gia các quan hệ pháp luật, do đó họ phải là người có đầy đủ năng lực hành vi, có đầy đủ quyền công dân.

3.3. Điều kiện về phẩm chất đạo đức

Người dự tuyển phải: “Không trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự chấp hành án phạt tù cải tạo không giam giữ hoặc đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh; không trong thời gian bị cấm hành nghề hoặc cấm làm công việc liên quan”. Đây là một trong những tiêu chuẩn quan trọng trong tuyển dụng công chức, theo quan điểm của Đảng, Nhà nước và của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì cán bộ, công chức là “người đầy tớ trung thành của nhân dân” phải hết lòng vì bổn phận, vì sự nghiệp phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân, là công bộc của nhân dân, cho nên họ phải có hạnh kiểm, có tư cách đạo đức tốt trong khi thực thi công vụ.

3.4. Điều kiện phải có đơn dự tuyển, có lý lịch rõ ràng

Người dự tuyển phải có đơn dự tuyển, có lý lịch rõ ràng. Để tuyển dụng một người vào làm việc trong công vụ, trong bộ máy nhà nước, trước tiên họ phải có lý lịch bản thân rõ ràng, có một lý lịch phản ánh mối quan hệ gia đình, quan hệ xã hội đầy đủ. Chúng ta chống lại quan niệm cũ kỹ, duy ý chí về “thành phần chủ nghĩa”, nhưng như thế không có nghĩa là không xem xét đến hạnh kiểm của con người cụ thể, biểu hiện trong quan hệ tương tác với gia đình, xã hội và tiểu sử bản thân.

“Sự trung thành” của công chức là một trong những điều kiện tuyển dụng mà pháp luật hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đề cập đến. Tất cả bộ máy viên chức ở Pháp, Đức, Nhật Bản và Singapore đều tìm cách làm cho một nhóm nhỏ công chức chuyên nghiệp cơ bản trung thành với quyền lợi của Nhà nước.

3.5. Đủ sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ

Để đảm bảo thực thi tốt công vụ, người được tuyển dụng làm công chức phải có sức khỏe; do đó sức khỏe được xem là một điều kiện để tuyển dụng công chức. Hiện nay, ở nước ta, việc đánh giá về sức khỏe căn cứ vào các tiêu chuẩn y tế, người dự tuyển phải có giấy chứng nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền. Ngoài những tiêu chuẩn chung, khi tuyển dụng, mỗi ngành nghề, lĩnh vực có thể có những tiêu chuẩn riêng như chiều cao, ngoại hình, thể chất, v.v.. Tuy nhiên, vấn đề xác nhận sức khỏe của người dự tuyển ở nước ta hiện nay quy định chưa được chặt chẽ, tất cả các cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên đều có thẩm quyền khám và xác nhận về sức khỏe. Điều này dẫn đến việc khám sức khỏe mang tính hình thức, người khám chỉ cần đóng một khoản lệ phí là có thể được cấp ngay một giấy chứng nhận “đủ sức khỏe công tác”. Do đó cần quy định rõ các cơ quan y tế có thẩm quyền xác định sức khỏe của người dự tuyển và việc khám sức khỏe phải thực hiện nghiêm chỉnh, đúng pháp luật.

3.6. Điều kiện về văn bằng, chứng chỉ

Văn bằng, chứng chỉ là thước đo trình độ chuyên môn của người công chức, tùy theo ngạch, bậc dự tuyển mà người dự tuyển phải có văn bằng, chứng chỉ tương ứng. Ví dụ: Để dự tuyển vào ngạch chuyên viên, người dự tuyển phải có trình độ đại học. Điều kiện văn bằng, chứng chỉ nhằm đảm bảo người gia nhập công vụ có thể đảm nhiệm được trọng trách, tránh tình trạng tuyển người không đúng chức trách. Về mặt lý luận tổ chức nhân sự, khi tuyển dụng và bố trí nhân sự trong cơ quan nhà nước phải căn cứ vào trình độ của người được tuyển dụng; nếu tuyển dụng vào ngạch cao hơn trình độ của người công chức thì người công chức không thực hiện được chức trách, ngược lại nếu tuyển dụng vào ngạch thấp hơn thì người công chức sẽ cảm thấy nhàm chán với công việc.

Ngoài văn bằng chuyên môn người dự tuyển cần có những chứng chỉ nhất định như: chứng chỉ ngoại ngữ, tin học, v.v.. Đây cũng là những nhu cầu cấp thiết đối với người gia nhập công vụ trong giai đoạn hiện nay, khi mà đất nước ta đang thực hiện công cuộc đổi mới, mở cửa giao lưu, hợp tác với các quốc gia trên thế giới ở nhiều lĩnh vực; biết ngoại ngữ sẽ giúp người công chức nghiên cứu sách, báo, tài liệu của nước ngoài, giao tiếp với các tổ chức, cá nhân nước ngoài khi thực thi công vụ. Trong nền công vụ hiện đại, việc ứng dụng các thành tựu của khoa học hiện đại, đặc biệt là công nghệ tin học trong công vụ là rất cần thiết vì nó sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý, do đó người gia nhập công vụ phải có trình độ tin học, tùy thuộc vào ngạch họ dự tuyển mà có yêu cầu trình độ khác nhau.

Điều kiện về văn bằng chứng chỉ hiện nay, theo quy định của pháp luật “Người dự tuyển chỉ cần có đủ các văn bằng, chứng chỉ phù hợp với yêu cầu của ngạch dự tuyển mà không phân biệt loại hình đào tạo (chính quy, tại chức, mở rộng), không phân biệt trường công lập và ngoài công lập”. Đây là một quy định phù hợp, từ trước đến nay, trong tuyển dụng công chức các cơ quan nhà nước thường có sự phân biệt giữa loại hình đào tạo chính quy và tại chức, luôn có định kiến cho rằng người được đào tạo bởi hình thức chuyên tu, tại chức là yếu kém. Việc xóa bỏ định kiến này nhằm tạo điều kiện cho mọi công dân đều được tham gia công vụ, còn họ có khả năng trình độ hay không thì thông qua kỳ thi để sàng lọc.

5/5 - (6 bình chọn)


 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại bình luận