Thời hạn điều tra, phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại

0

1. Thời hạn điều tra là gì?

Thời hạn điều tra là khoảng thời gian xác định bảo đảm cần và đủ mà pháp luật quy định để Cơ quan điều tra tiến các biện pháp điều tra để chứng minh tội phạm và người phạm tội.

Thời hạn điều tra có ý nghĩa bảo đảm cho Cơ quan điều tra có khoảng thời gian cần thiết để thực hiện nhiệm vụ điều tra, thể hiện yêu cầu và trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong khoảng thời gian thời gian luật định cần và đủ để nhanh chóng phát hiện và xử lý tội phạm. Đồng thời bảo đảm quyền con người của bị can. Thời hạn điều tra thể hiện nguyên tắc xác định sự thật của vụ án trong luật tố tụng hình sự khẳng định: Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng trong đó có các Cơ quan điều tra. Nếu không chứng minh được một người phạm tội thì phải minh oan cho họ và quy trình chứng minh tội phạm chỉ được thực hiện trong thời hạn nhất định. Là một giai đoạn của tố tụng hình sự nên giai đoạn điều tra có thời điểm bắt đầu và kết thúc. Khoảng thời gian giữa điểm bắt đầu và kết thúc của giai đoạn điều tra được gọi là thời hạn điều tra. Thời hạn điều tra được xác định dựa vào loại tội phạm và tính chất của vụ án. Pháp luật tố tụng hình sự trước khi được pháp điển hóa lần thứ nhất năm 1988 không quy định thời hạn điều tra. Điều đó dẫn đến việc điều tra bị kéo dài vô thời hạn ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích của bị can.

Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra. Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản để nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra.

Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:

– Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng; Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lẩn thứ hai không quá 02 tháng; Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng; Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điểu tra ba lẩn, mỗi lần không quá 04 tháng.

– Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà thời hạn gia hạn điều tra đã hết nhưng do tính chất rất phức tạp của vụ án mà chưa thể kết thúc việc điều tra thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.

– Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.

Thẩm quyền gia hạn điều tra của Viện kiểm sát:

– Đối với tội phạm ít nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra;

– Đối với tội phạm nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai.

– Đối với tội phạm rất nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ hai. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lẩn thứ nhất và lẩn thứ hai;

– Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai; Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự Trung ương gia hạn điều tra lẩn thứ ba. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý điều tra thì việc gia hạn điều tra thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quần sự Trung ương.

Trong trường hợp vụ án được tiến hành tố tụng bằng thủ tục rút gọn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thì thời hạn điều tra là 20 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.

Hình minh họa. Thời hạn điều tra, phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại

2. Thời hạn phục hồi điều tra

Phục hồi điều tra là trường hợp Cơ quan điều tra tiếp tục thực hiện việc điều tra vụ án đối với những vụ án đã điều tra trước đây nhưng bị đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ điều tra khi những căn cứ đình chỉ và tạm đình chỉ không còn và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Thời hạn điều tra đối với vụ án được phục hồi điều tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và không quá 03 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi có quyết định phục hổi điều tra cho đến khi kết thúc điều tra.

Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đê’ nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra. Thời hạn gia hạn điều tra một lẩn không quá 01 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng; đối với tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng; đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lẩn không quá 03 tháng.


3. Thời hạn điều tra bổ sung

Điều tra bổ sung là trường hợp Cơ quan điều tra tiến hành điều tra đối với những vụ án đã điều tra trước đây nhưng bị Viện kiểm sát, Tòa án trả lại yêu cầu điều tra bổ sung khi có những căn cứ trả hồ sơ do Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định. Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 02 tháng; nếu do Tòa án trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 01 tháng. Viện kiểm sát chỉ được trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hai lần. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần và Hội đồng xét xử chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần. Thời hạn điều tra bổ sung tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ án và yêu cầu điều tra bổ sung.


4. Thời hạn điều tra lại

Điều tra lại là trường hợp Cơ quan điều tra tiến hành điều tra vụ án đã điều tra trước đó nhưng bị Hội đồng xét xử phúc thẩm, Giám đốc thẩm hủy bản án và yêu cầu điều tra lại khi có căn cứ luật định. Trường hợp vụ án được trả lại để điểu tra lại thì thời hạn điều tra và gia hạn điều tra thực hiện thủ tục điều tra theo quy định tại Điều 172 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về thời hạn điều tra. Thời hạn điều tra được tính từ khi Cơ quan điều tra nhận hồ sơ và yêu cầu điều tra lại.

5/5 - (10 bình chọn)

 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại một bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công khai.