Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

0

Nhằm tăng cường tính tranh tụng, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã nhập thủ tục xét hỏi tại phiên tòa với thủ tục tranh luận tại phiên tòa thành “Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa” tại Mục V, Chương XXI – Xét xử sơ thẩm.


1. Thủ tục xét hỏi

1.1. Công bố bản cáo trạng

Trước khi tiến hành xét hỏi, Kiểm sát viên đọc cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung, nếu có. Cần khẳng định rằng, đọc cáo trạng không phải là hoạt động xét hỏi, mà là một thủ tục tố tụng bắt buộc tạo cơ sở cho hoạt động xét hỏi liền ngay sau đó. Điều 306 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: việc trình bày ý kiến bổ sung cáo trạng của Kiểm sát viên không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo. Nội dung này cho thấy điểm tích cực là Kiểm sát viên không được bổ sung những vấn đề làm xấu đi tình trạng của bị cáo. Tuy nhiên, quy định đó vẫn chưa giải quyết được mâu thuẫn là việc bổ sung của Kiểm sát viên chỉ để làm rõ, giải thích cáo trạng hay bao gồm cả những tình tiết vụ án? Mặt khác, thủ tục công bố cáo trạng là khác với việc trình bày lời buộc tội. Kiểm sát viên trình bày lời buộc tội là cơ sở để bị cáo và người bào chữa, người đại diện của họ đưa ra lập luận về nội dung buộc tội, có nhận tội hay không, nhận tội đến đâu, vì sao.

1.2. Chủ thể và phạm vi xét hỏi

Có thể phân chia chủ thể xét hỏi thành hai nhóm đối tượng. Nhóm thứ nhất là người tiến hành tố tụng và nhóm thứ hai là người tham gia tố tụng.

+ Ở nhóm thứ nhất, chủ thể xét hỏi gồm có: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, các Hội thẩm và Kiểm sát viên;

+ Nhóm thứ hai, chủ thể xét hỏi gồm có: Người bào chữa; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; người giám định; bị cáo; bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người đại diện của những người này; người làm chứng.

Thủ tục xét hỏi quy định Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên và người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền đặt câu hỏi trực tiếp (gọi là quyền xét hỏi trực tiếp), còn người tham gia tố tụng có quyền đề nghị Hội đồng xét xử đặt câu hỏi; (gọi là quyền xét hỏi gián tiếp); riêng bị cáo có quyền đặt câu hỏi trực tiếp đối với người tham gia tố tụng khác.

Về quyền đặt câu hỏi của bị cáo và người tham gia tố tụng khác (Điều 309, Điều 310 và Điều 311 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: bị cáo có quyền hỏi bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện của họ và người làm chứng nếu được chủ tọa phiên tòa đồng ý. Đó là bị cáo có quyền đặt câu hỏi trực tiếp với người tham gia tố tụng khác về các vấn đề có liên quan đến bị cáo, mà không phải truyền đạt câu hỏi của mình cho chủ tọa phiên tòa. Tuy nhiên, quyền đặt câu hỏi của bị cáo vẫn bị hạn chế là phụ thuộc vào sự đề nghị của bị cáo có được chủ tọa phiên tòa đồng ý hay không. Tác giả cho rằng, chỉ nên giới hạn là chủ tọa phiên tòa cắt những câu hỏi của bị cáo không liên quan đến vụ án hoặc câu hỏi trùng lặp, vòng vo.

1.3. Về trình tự và phương pháp xét hỏi

Trình tự và phương pháp xét hỏi có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả của hoạt động xét hỏi. Nó là yếu tố trọng tâm, cơ bản nhất trong thủ tục xét hỏi. Người hỏi muốn đạt được một lượng thông tin cần thiết phục vụ việc chứng minh theo hướng có lợi cho mình thì đòi hỏi phải có phương pháp (còn có thể nói là phải có nghệ thuật). Trình tự và phương pháp xét hỏi còn biểu hiện thái độ, quyền và lợi ích của các chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng; phản ánh cụ thể quá trình vận hành mô hình tố tụng và chức năng tố tụng hình sự.

Thứ nhất, về trình tự xét hỏi:

+ Đối với chủ thể tiến hành xét hỏi: Điều 307 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định trách nhiệm của chủ tọa phiên tòa trong việc điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý. Điều luật đã quy định cụ thể về trách nhiệm điều khiển phiên xét hỏi của chủ tọa phiên tòa và cho thấy sự linh hoạt hơn trong việc lựa chọn người nào xét hỏi trước, xét hỏi sau theo thứ tự hợp lý. Tuy nhiên, chủ tọa phiên tòa bảo đảm việc xét hỏi và là người hỏi trước, chứ không phải là Kiểm sát viên và người bào chữa. Có thể thấy vai trò trong hoạt động xét hỏi của chủ tọa phiên tòa là rất lớn, vừa xét hỏi, vừa làm nhiệm vụ điều khiển phiên xét hỏi.

+ Đối với người được xét hỏi:

Một là, xét hỏi bị cáo: chủ thể tiến hành xét hỏi không xét hỏi đồng thời các bị cáo một lúc mà hỏi lần lượt từ bị cáo này sang bị cáo khác (nếu vụ án có nhiều bị cáo). Dù thủ tục không quy định là phải hỏi bị cáo này trước hay bị cáo khác trước, nhưng kinh nghiệm thực tiễn cho thấy chủ thể tiến hành xét hỏi thông thường hỏi bị cáo đầu vụ (cầm đầu) trước. Để việc xét hỏi được tiến hành một cách hợp lý, thì đòi hỏi Kiểm sát viên, người bào chữa và chủ tọa phiên tòa phải dự kiến đầy đủ các tình tiết về từng vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án, cũng như cần phải xác định từng tội mà bị cáo đã thực hiện để đặt câu hỏi. Trên thực tế việc xét hỏi đối với vụ án mà chỉ có một bị cáo thì không phức tạp bằng vụ án có nhiều bị cáo, đặc biệt là bị cáo phạm nhiều tội khác nhau, với nhiều hành vi phạm tội khác nhau.

Thủ tục xét hỏi đối với bị cáo còn đặt ra là, trong trường hợp bị cáo không trả lời câu hỏi, thì chủ thể tiến hành xét hỏi tiếp tục hỏi người khác và xem xét vật chứng, tài liệu khác. Đây là một điểm tiến bộ, chứng minh quyền được im lặng của bị cáo tại phiên tòa hình sự sơ thẩm.

Hai là, sau khi xét hỏi bị cáo rồi mới hỏi bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ và những người tham gia tố tụng khác, theo trình tự quy định tại Điều 310, Điều 311 và Điều 316 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Thứ hai, về phương pháp xét hỏi:

+ Phương pháp xét hỏi thứ nhất, là xét hỏi từng người. Đây là một phương pháp tối ưu, nhất là khi áp dụng đối với bị cáo và người làm chứng, phương pháp hỏi như vậy là hợp lý. Phương pháp xét hỏi từng người có điều kiện cần và đủ là phải kết hợp với trình tự xét hỏi. Nghĩa là hỏi người nào trước, người nào sau cho phù hợp với đối tượng chứng minh, phù hợp với những vấn đề cần chứng minh trong vụ án. Sở dĩ thủ tục tố tụng đặt ra phương pháp xét hỏi đối với từng người là để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thu nhận thông tin, phục vụ kiểm tra, đánh giá chứng cứ và tránh cho việc xét hỏi sơ sài, đại khái, sẽ không giải quyết được mục đích vấn đề vì các chủ thể bị xét hỏi không thể cùng lúc trả lời câu hỏi và không thể áp đặt chung một hoặc nhiều câu hỏi cho các chủ thể bị xét hỏi, rồi lẩn lượt trả lời từng người một.

+ Phương pháp xét hỏi thứ hai, là hỏi bổ sung. Phương pháp này được thực hiện sau khi bị cáo và người tham gia tố tụng khác trình bày lượt hỏi lần thứ nhất. Đây là phương pháp nhằm tiếp tục hỏi tường tận vấn đề và giải quyết mâu thuẫn trong lời khai. Việc xét hỏi bổ sung diễn ra ngay khi bắt đầu lượt xét hỏi đầu tiên do Hội đồng xét xử tiến hành và sau khi kết thúc việc xét hỏi.

+ Phương pháp xét hỏi thứ ba, là xét hỏi kết hợp với biện pháp cách ly bị cáo, cách ly người làm chứng. Trong quá trình xét hỏi, chủ tọa phiên tòa có thể cho cách ly các bị cáo với nhau, cách ly bị cáo với người làm chứng và cách ly người làm chứng với nhau. Việc sử dụng phương pháp này nhằm giúp người khai ổn định tâm lý, đồng thời người được xét hỏi không nghe được lời khai của nhau hoặc tiếp xúc với những người có liên quan, lời khai có thể khách quan, trung thực hơn.

+ Phương pháp xét hỏi thứ tư, là xét hỏi kết hợp với công bố lời khai, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ và trình bày, công bố các tài liệu của vụ án. Phương pháp này có ý nghĩa là tăng hiệu quả chứng minh, thường được kết hợp với biện pháp đối chất, đặc biệt hiệu quả trong trường hợp bị cáo chối tội, các lời khai có mâu thuẫn, khi có người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa.

1.4. Kết thúc xét hỏi và trở lại việc xét hỏi

Khi nhận thấy các tình tiết vụ án đã được xem xét đầy đủ, thì chủ tọa phiên tòa hỏi Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác xem họ có yêu cầu hỏi vấn đề gì nữa không. Nếu có yêu cầu hợp lý, thì Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét hỏi. Nếu không ai có yêu cầu hỏi gì thêm, Hội đồng xét xử tuyên bố kết thúc việc xét hỏi. Quy định kết thúc việc xét hỏi như vậy là hợp lý. Một mặt chứng tỏ được vai trò điều khiển phiên tòa của Hội đổng xét xử, mặt khác bảo đảm quyền được xét hỏi của các chủ thể khi họ cẩn thiết phải đưa ra các câu hỏi bổ sung nếu có. Tuy nhiên, việc xét hỏi không chỉ dừng lại ở tuyên bố kết thúc xét hỏi của Hội đồng xét xử, mà thông qua tranh luận hoặc thông qua nghị án, nếu thấy có tình tiết vụ án chưa được xét hỏi hoặc xét hỏi chưa đầy đủ thì Hội đồng xét xử quyết định trở lại việc xét hỏi. Điều 323 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định Hội đồng xét xử “phải” quyết định trở lại việc xét hỏi nếu còn tình tiết vụ án chưa được hỏi, chưa được làm sáng tỏ. Trước đây, Điều 219 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định “có thể” quyết định trở lại việc xét hỏi, nếu thấy cần “xem xét thêm chứng cứ”. Như vậy, quy định mới sử dụng thuật ngữ pháp lý chặt chẽ hơn, ràng buộc trách nhiệm của Hội đồng xét xử trong việc làm rõ chứng cứ, tình tiết vụ án trong phần xét hỏi.

1.5. Thủ tục công bố lời khai trong giai đoạn điêu tra, truy tố

Thủ tục công bố lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố nhằm làm rõ các tình tiết của vụ án và thể hiện ý chí của người tham gia tố tụng trong phiên tranh tụng.

Chỉ công bố lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố khi một trong số những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa hoặc đã chết, hoặc khi tranh tụng, Hội đồng xét xử thấy cần phải công bố lời khai để chứng minh, hoặc theo yêu cầu của người tham gia tố tụng, Kiểm sát viên hoặc người bào chữa. Điều 308 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung các trường hợp công bố lời khai tại phiên tòa so với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, đó là khi người được xét hỏi không nhớ những lời khai của mình trong giai đoạn điều tra, truy tố; khi người được xét hỏi đề nghị công bố lời khai của họ trong giai đoạn điều tra, truy tố. Đây là những điểm bổ sung hợp lý để mở rộng quyền chứng minh cho bị cáo và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa hình sự sơ thẩm.

Bên cạnh đó, Điều 308 nêu trên đã xác lập mới các trường hợp Hội đồng xét xử không công bố các tài liệu trong hồ sơ vụ án có liên quan đến bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư… Đây là nội dung mới có giá trị tích cực.

1.6. Thủ tục nghe, xem nội dung được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh và thủ tục Điều tra viên, Kiểm sát viên và người khác có thẩm quyển tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trình bày ý kiến

Hoạt động xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, kết hợp với việc nghe, xem băng ghi âm, ghi hình có âm thanh được xác định là một biện pháp tăng tính tranh tụng. Đó là một hình thức cung cấp chứng cứ để chứng minh tại phiên tòa.

Đối với lời trình bày của Điều tra viên, Kiểm sát viên hoặc của người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng được Hội đổng xét xử triệu tập đến và trình bày trước phiên tòa là một điểm mới rất tiến bộ, biểu hiện tính tranh tụng cao, vì lời trình bày của họ sẽ giải thích những quyết định, hành vi tố tụng của họ trong giai đoạn điều tra, truy tố; đặc biệt là trường hợp bị cáo không nhận tội, không thừa nhận hành vi phạm tội, hoặc thay đổi lời khai vì cho rằng trong quá trình điều tra bị cáo bị ép cung…

Hình minh họa. Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

2. Thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm

2.1. Chủ thể tham gia tranh luận

Chủ thể tham gia tranh luận bao gổm Kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện của họ, hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ. Đối với người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch – họ không phải là chủ thể tham gia tranh luận, vì họ tham gia phiên tòa không phải là bảo vệ quyên lợi cho mình mà nhằm thực hiện nghĩa vụ pháp lý theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng.

Trong thủ tục tranh luận, chủ tọa phiên tòa làm nhiệm vụ điều khiển các bên tranh luận.

2.3. Trình tự phát biểu khi tranh luận

Khi bắt đầu phiên tranh luận, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, sau đó đến lượt bị cáo trình bày lời bào chữa, nếu bị cáo có người bào chữa thì người này bào chữa cho bị cáo. Nghĩa là nếu có người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa, thì người bào chữa đưa ra ý kiến, sau đó bị cáo trình bày ý kiến bổ sung (nhưng không bắt buộc). Sau đó, đến lượt các chủ thể tham gia tranh luận khác (bị hại, đương sự,…) đưa ra ý kiến tranh luận.

Về luận tội của Kiểm sát viên (Điều 321 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015): Nội dung của điều luật này được tách ra từ Điều 217 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, bổ sung điểm mới là quy định các nội dung cơ bản của luận tội. Trong đó đáng chú ý ở nội dung luận tội: đề nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng. Luận tội được trình bày sau khi kết thúc việc xét hỏi, mở đầu cho một phiên tranh luận nhưng Kiểm sát viên đã đề nghị mức án, các biện pháp tư pháp, trách nhiệm dân sự là chưa hợp lý. Bởi vì, việc tranh luận chưa xảy ra, các bên chưa đưa ra ý kiến lập luận để làm sáng tỏ các tình tiết, chứng cứ còn mâu thuẫn nhưng Kiểm sát viên đã đề xuất cụ thể, chi tiết về mức án, trách nhiệm dân sự, vô hình trung gây áp lực cho bị cáo và người bào chữa. Kiểm sát viên chỉ nên đưa ra lập luận kết luận về tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo, còn mức án và trách nhiệm bồi thường thiệt hại nên để Hội đồng xét xử kết luận khi tuyên án. Hoặc sau khi các bên đã tranh luận xong, Kiểm sát viên và người bào chữa đưa ra lời đề nghị cụ thể về mức án, trách nhiệm bồi thường thiệt hại…, trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án để cân nhắc, quyết định.

2.4. Thủ tục đối đáp

Sau lời luận tội của Kiểm sát viên, lời bào chữa của người bào chữa, ý kiến của bị cáo và người tham gia tố tụng khác, các bên thực hiện việc đối đáp về những tình tiết, chứng cứ còn có mâu thuẫn. Nếu không có hoạt động đối đáp thì mâu thuẫn không được làm rõ, dẫn đến không thể đưa ra các kết luận, đánh giá về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án được khách quan. Đối đáp còn tạo thuận lợi cho bị cáo và người tham gia tố tụng được lập luận không bị hạn chế về thời gian, được trình bày hết ý kiến và đưa ra đề xuất của mình. Quy định bắt buộc Kiểm sát viên phải đưa ra lập luận đối với từng ý kiến. Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác tại phiên tòa. Chủ tọa phiên tòa không được can thiệp vào quá trình tranh luận của các bên, nhưng có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ án.

+ Điều 322 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã bỏ đi quy định bị cáo, người bào chữa… “trình bày ý kiến về luận tội” của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, thay vào đó, họ được trình bày ý kiến liên quan đến vụ án, kết hợp với đưa ra chứng cứ, tài liệu và những lập luận của mình để đối đáp lại quan điểm buộc tội của Kiểm sát viên… Như vậy, việc đưa ra ý kiến của bị cáo và người bào chữa không còn bị bó hẹp như trước đây. Đồng thời, thông qua việc đối đáp, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra đề nghị của mình.

+ Điều 322 nêu trên quy định cụ thể trách nhiệm của Kiểm sát viên khi đối đáp phải đưa ra những chứng cứ, tài liệu và những lập luận của mình và phải đối đáp đến cùng với từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa. Đồng thời, chủ tọa phiên tòa có quyền yêu cầu Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến của người bào chữa, người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận. Quy định này có giá trị tích cực, tạo ra sự bình đẳng, dân chủ trong hoạt động tranh luận.

+ Chủ tọa phiên tòa có quyền cắt những ý kiến tranh luận không liên quan đến vụ án và các ý kiến lặp lại (trước đây chỉ quy định cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án).

+ Hội đổng xét xử phải lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của các bên và người tham gia tranh luận. Trường hợp không chấp nhận ý kiến của những người tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải nêu rõ lý do và phải được thể hiện trong bản án. Quy định này nhằm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử – đó là phán quyết của Tòa án dựa vào kết quả tranh tụng khách quan tại phiên tòa.


3. Nghị án và tuyên án

3.1. Thủ tục nghị án

Sau khi tranh tụng, các tình tiết vụ án đã được làm rõ, Hội đồng xét xử tiến hành nghị án tại phòng nghị án. Chỉ Thẩm phán và Hội thẩm mới có quyền nghị án. Các thủ tục khi nghị án bao gồm:

– Chủ tọa phiên tòa chủ trì việc nghị án nêu những vấn đề phải giải quyết để Hội đồng xét xử thảo luận, quyết định.

– Chủ tọa phiên tòa tự mình hoặc phân công một thành viên Hội đồng xét xử ghi biên bản nghị án.

– Các thành viên Hội đồng xét xử phải giải quyết từng vấn đề vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề. Hội thẩm biểu quyết trước, Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Nếu không có ý kiến nào chiếm đa số thì phải thảo luận và biểu quyết lại từng ý kiến của các thành viên của Hội đồng xét xử đã đưa ra để xác định ý kiến chiếm đa số. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án.

– Khi nghị án chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.

– Trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử vẫn giải quyết những vấn đề của vụ án, có thể xảy ra hai trường hợp như sau:

+ Nếu có căn cứ xác định bị cáo không có tội thì Hội đồng xét xử tuyên bị cáo không có tội;

+ Nếu thấy việc rút quyết định truy tố không có căn cứ thì quyết định tạm đình chỉ vụ án và kiến nghị với Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp.

– Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, Hội đồng xét xử có thể kéo dài thời gian nghị án, nhưng không quá 07 ngày kể từ ngày kết thúc tranh luận tại phiên tòa. Trường hợp này, Hội đồng xét xử phải thông báo cho những người có mặt tại phiên tòa và người tham gia tố tụng vắng mặt biết giờ, ngày, tháng, năm và địa điểm tuyên án.

– Kết thúc việc nghị án, Hội đồng xét xử phải quyết định một trong những vấn đề sau:

+ Ra bản án và tuyên án;

+ Trở lại việc xét hỏi và tranh luận nếu có tình tiết vụ án chưa được xét hỏi, chưa được làm sáng tỏ;

+ Trả hồ sơ vụ án để Viện kiểm sát điều tra bổ sung; yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ;

+ Tạm đình chỉ vụ án.

– Nếu phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm thì Hội đồng xét xử quyết định khởi tố vụ án theo quy định tại Điều 18 và Điều 153 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

3.2. Thủ tục tuyên án

Chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của Hội đồng xét xử đọc bản án. Trường hợp xét xử kín thì chỉ đọc phần quyết định trong bản án. Sau khi đọc xong có thể giải thích thêm về việc chấp hành bản án và quyền kháng cáo.

Bên cạnh những nhiệm vụ, quyền hạn khi nghị án và tuyên án, Hội đồng xét xử có quyền trả tự do cho bị cáo theo quy định tại Điều 328 và bắt tạm giam bị cáo sau khi tuyên án theo quy định tại Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

5/5 - (5 bình chọn)

 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại một bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công khai.