Tình huống về tội phạm và cấu thành tội phạm

0

1. Lý thuyết về tội phạm và cấu thành tội phạm

1.1. Khái niệm và phân loại tội phạm

Khái niệm tội phạm được quy định tại khoản 1, Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015, theo đó: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế nền văn hoá quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

Phân loại tội phạm được quy định tại Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015. Tội phạm được phân thành 04 loại: (1) tội ít nghiêm trọng; (2) tội nghiêm trọng; (3) tội rất nghiêm trọng; và (4) tội đặc biệt nghiêm trọng. Cụ thể:

– Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm (điểm a, khoản 1 Điều 9);

– Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù (điểm b, khoản 1 Điều 9);

– Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù (điểm c, khoản 1 Điều 9);

– Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình (điểm d, khoản 1 Điều 9).

Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội như trên và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 BLHS năm 2015 về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.

Xem thêmKhái niệm tội phạm [Bình luận BLHS]

Xem thêmPhân loại tội phạm [Bình luận Bộ luật Hình sự]

1.2. Khái niệm và phân loại cấu thành tội phạm

Cấu thành tội phạm là tổng hợp các dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho một loại tội cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự. Việc phân loại cấu thành tội phạm dự vào các tiêu chí sau:

– Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, có 3 loại: cấu thành tội phạm cơ bản; cấu thành tội phạm tăng nặng; cấu thành tội phạm giảm nhẹ.

– Căn cứ vào đặc điểm cấu trúc trong mặt khách quan của CTTP, có 2 loại CTTP: cấu thành tội phạm hình thức; cấu thành tội phạm vật chất.

Xem thêmPhân loại cấu thành tội phạm theo tính chất, đặc điểm


2. Giải quyết tình huống cụ thể

2.1. Tình huống 01

2.1.1. Mô tả tình huống

Lý Minh L sinh năm 1957 và Đỗ Thị M là vợ chồng chung sống với nhau có 02 con chung. Khoảng tháng 7/2018, giữa L và chị M xảy mâu thuẫn vì L cho rằng chị M ngoại tình với em rể của chị là Phạm Tấn H nên L bỏ nhà đến ở nhờ nhà anh Nguyễn Văn T (là cháu L).

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 08/10/2018, chị M nhờ anh Đỗ Văn K (là cháu chị M) chở bằng xe mô tô đến nhà anh T để đòi tiền L vì trước đó chị M có cho anh T mượn 3.000.000 đồng và anh T đã trả tiền cho L. Do L không có nhà nên chị M và anh K đi về. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày chị M và anh K tiếp tục đến tìm L. Khi phát hiện thấy L về mở cửa vào nhà, chị M vào theo. Sau khi chị M vào trong nhà thì L khóa cửa bên trong lại. Giữa L và chị M xảy ra cự cãi và đánh nhau. Trong lúc xô xát, L lấy tuýp sắt ở đống đồ nghề sửa chữa ca nô của anh T (dài 61cm, chu vi 08cm) đánh nhiều cái vào đầu chị  M làm chị M ngã xuống nền nhà tử vong tại chỗ. Lúc này, nhiều người chạy đến xô cửa để vào trong nhà nhưng do cửa khoá bên trong nên không vào được. Thấy vậy, anh Lữ Văn S đã gọi điện cho Cảnh sát 113 và Công an phường 6, thành phố Cà Mau đến lập Biên bản và bắt L.

Được biết tội phạm mà L đã thực hiện là tội giết người tại khoản 1, Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015.

2.1.2. Yêu cầu về vấn đề cần giải quyết

1. Xác định các tình tiết trong cấu trúc của cấu thành tội phạm

2. Theo anh/chị, tội phạm mà Lý Minh L thực hiện thuộc loại tội phạm nào? Cơ sở pháp lý?

3. Tội phạm mà Lý Minh L thực hiện là tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất hay cấu thành tội phạm hình thức? Tại sao?

2.1.3. Định hướng giải quyết vấn đề

Các sự kiện có ý nghĩa pháp lý

– Giữa Lý Minh L và chị M xảy mâu thuẫn vì L cho rằng chị M ngoại tình với em rể của chị là Phạm Tấn H;

– Vì muốn đòi lại khoản tiền 3.000.000 đồng mà anh M trả cho L (tiền của M) nên khi phát hiện thấy L về mở cửa vào nhà, chị M vào theo. Sau khi chị M vào trong nhà thì L khóa cửa bên trong lại. Giữa L và chị M xảy ra cự cãi và đánh nhau; L lấy tuýp sắt (dài 61cm, chu vi 08cm) đánh nhiều cái vào đầu chị M làm chị M tử vong;

– Tội phạm mà Lý Minh L đã thực hiện là tội giết người tại khoản 1, Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015.

Pháp luật liên quan cần áp dụng

– Khoản 1, Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015;

– Khoản 1, Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015;

Cách thức áp dụng

1. Các tình tiết trong cấu trúc cấu thành tội phạm trên bao gồm tình tiết định tội, tình tiết định khung tăng nặng, tình tiết định khung giảm nhẹ. Cụ thể:

– Tình tiết định tội: giữa Lý Minh L và chị M xảy mâu thuẫn vì L cho rằng chị M ngoại tình với em rể của chị là Phạm Tấn H. Và vì muốn đòi lại khoản tiền 3.000.000 đồng mà anh M trả cho L (tiền của M). Nên khi phát hiện thấy L về mở cửa vào nhà, chị M vào theo. Sau khi chị M vào trong nhà thì L khóa cửa bên trong lại. Giữa L và chị M xảy ra cự cãi và đánh nhau. Trong lúc xô xát, L lấy tuýp sắt đánh nhiều cái vào đầu chị M làm chị M ngã xuống nền nhà và tử vong. Đây là tình tiết định tội giết người tại Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015.

– Tình tiết định khung tăng nặng: Hành vi của Lý Minh L dùng tuýp sắt (dài 61cm, chu vi 08cm) đánh nhiều cái vào đầu chị M làm chị M ngã xuống nền nhà và bị chết ngay tại chỗ là hành vi phạm tội có tính chất côn đồ5. Tình tiết này là tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại điểm n, khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015.

– Tình tiết định khung giảm nhẹ: Trong vụ án này không có tình tiết định khung giảm nhẹ.

2. Căn cứ vào điểm d, khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015 về phân loại tội phạm và căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 là hình phạt tử hình thì loại tội phạm mà Lý Minh L thực hiện là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Tội phạm mà Lý Minh L thực hiện là loại tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất. Bởi vì, tội phạm giết người là loại tội phạm mà cấu trúc trong mặt khách quan của tội phạm bao gồm hành vi tước đoạt tính mạng của người khác và hậu quả chết người cũng như mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, được thể hiện trong dấu hiệu định tội của tội phạm này.

Kết luận

1. Các tình tiết trong cấu trúc cấu thành tội phạm trên bao gồm:

Tình tiết định tội: Lý Minh L lấy tuýp sắt đánh nhiều cái vào đầu chị M làm chị M ngã xuống nền nhà và bị chết ngay tại chỗ. Đây là tình tiết định tội giết người tại Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015.

Tình tiết định khung tăng nặng: có tình tiết định khung tăng nặng “phạm tội có tính chất côn đồ” quy định tại điểm n, khoản 1 Điều 123 BLHS năm 2015.

2. Loại tội phạm mà Lý Minh L thực hiện là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Tội phạm mà Lý Minh L thực hiện là loại tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất.

Câu hỏi bổ sung

1. Giả sử trong vụ án này, Lý Minh L bị Tòa án tuyên hình phạt là 7 năm tù, thì tội phạm mà L thực hiện là tội nghiêm trọng, đúng hay sai? Tại sao?

2. Việc xác định cấu thành tội phạm hình thức hay cấu thành tội phạm vật chất trong vụ án trên có ý nghĩa pháp lý gì?

2.2. Tình huống 02

2.2.1. Mô tả tình huống

Vào khoảng 15 giờ ngày 18/5/2018, đối tượng Trần Văn T đi bộ đến cửa hàng kinh doanh trò chơi điện tử trên đường Tên Lữa, quận Bình Tân chơi thì gặp đối tượng Trần Thành D. D rủ T đi cướp giật tài sản bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. T đồng ý. Đối tượng D điều khiển xe mô tô biển số 55P1-4945 chở đối tượng T lưu thông qua nhiều tuyến đường. Đến khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, khi đến trước số nhà 10 Đường số 2, cư xá Lữ Gia, Phường 15, Quận 11 thì đối tượng D phát hiện thấy bà Nguyễn Thị Khánh L đang dừng và ngồi trên xe sử dụng điện thoại nên chỉ cho đối tượng T thấy. Sau đó, đối tượng D điều khiển xe quay lại, từ phía sau vượt lên áp sát vào bên trái xe của bà L để đối tượng T dùng tay phải giật chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F1S của bà L. Sau đó, đối tượng D tăng ga bỏ chạy. Bà L tri hô và điều khiển xe chạy đuổi theo. Khi đến trước siêu thị CoopMart ở góc đường Lữ Gia – Nguyễn Thị Nhỏ, Quận 11 thì xe của đối tượng D va chạm với xe của người đi đường làm cho đối tượng T đánh rơi chiếc điện thoại vừa chiếm đoạt được của bà L. Lúc này, đối tượng T nhảy xuống xe, chạy bộ được một đoạn thì bị bà L cùng người đi đường bắt giữ giao cho Công an Phường 15, Quận 11 lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang chuyển giao Công an Quận 11 xử lý. Riêng đối tượng D điều khiển xe chạy tẩu thoát. Đến ngày 19/5/2018 Công an Quận 11 bắt được đối tượng D.

Được biết tội phạm mà T và D đã thực hiện là tội cướp giật tài sản tại điểm d, khoản 2, Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015.

2.2.2. Yêu cầu về các vấn đề cần giải quyết

1. Theo anh/chị, tội phạm mà T và D thực hiện thuộc loại tội phạm gì? Cơ sở pháp lý?

2. Dựa vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hãy xác định loại CTTP mà T và D đã thực hiện?

2.2.3. Định hướng giải quyết vấn đề

Các sự kiện có ý nghĩa pháp lý

– D rủ T đi cướp giật tài sản để bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. T đồng ý;

– Khi đang lưu thông trên đường bằng xe máy, D phát hiện thấy bà Nguyễn Thị Khánh L đang dừng và ngồi trên xe sử dụng điện thoại nên chỉ cho đối tượng T thấy;

– D điều khiển xe quay lại, từ phía sau vượt lên áp sát vào bên trái xe của bà L để đối tượng T dùng tay phải giật chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F1S của bà L sau đó, đối tượng D tăng ga bỏ chạy;

– Tội phạm mà T và D đã thực hiện là Tội cướp giật tài sản tại điểm d, Khoản 2, Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015.

Pháp luật liên quan cần áp dụng

– Khoản 2, Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015;

– Khoản 1, Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015.

Cách thức áp dụng

1. Căn cứ vào điểm c, khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015 về phân loại tội phạm, và căn cứ vào khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015 về tội cướp giật tài sản với mức cao nhất của khung hình phạt là 10 năm tù, nên loại tội phạm mà D và T thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng.

2. Tội phạm mà T và D thực hiện bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “dùng thủ đoạn nguy hiểm” tại điểm d, khoản 2, Điều 171 BLHS năm 2015, nên tội phạm mà D và T thực hiện là tội phạm có cấu thành tội phạm tăng nặng (ngoài dấu hiệu định tội thì người phạm tội có thêm tình tiết định khung, làm tăng nặng khung hình phạt).

Kết luận

1. Tội phạm mà D và T thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng

2. Tội phạm mà D và T thực hiện là tội phạm có cấu thành tội phạm tăng nặng

5/5 - (1 bình chọn)

 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại một bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công khai.