Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

0

Các hành vi gian lận về Gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp. Tuy nhiên, những biện pháp xử lý hành chính đối với người có hành vi vi phạm chưa đủ tính răn đe. Vì vậy, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung tội Gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý trách nhiệm hình sự các hành vi vi phạm, đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn và công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm.

1. Cấu thành tội phạm

1.1. Khách thể của tội phạm

Tội phạm này xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về bảo hiểm xã hôi, bảo hiểm thất nghiệp; từ đó, xâm phạm đến chế độ an sinh xã hội của Nhà nước, ảnh hưởng đến lợi ích của người lao động, của nhân dân.

Khách thể cần được bảo vệ của tội phạm này có thể chia thành khách thể trực tiếp và khách thể gián tiếp. Khách thể trực tiếp chính là quyền và lợi ích của người lao động, người tham gia bảo hiểm, người dân; các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp của cơ quan bảo hiểm xã hội. Khách thể gián tiếp là sự ổn định, an toàn của chính sách phúc lợi, an sinh xã hội, là sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

Đối tượng tác động của tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp là tài liệu, thông tin trong hồ sơ yêu cầu bồi thường, trả tiền bảo hiểm. Khách thể của tội phạm ở đây có thể bị xâm hại để chiếm đoạt số tiền của cơ quan bảo hiểm.

1.2. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội là người từ đủ 16 tuổi trở lên  và có năng lực trách nhiệm hình sự. Đối với tội danh này, cá nhân khi là chủ thể của tội phạm có thể là chủ thể thường mà cũng có thể là chủ thể đặc biệt. Chủ thể thường có thể là người thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc hoặc tự nguyện (những khách hàng tham gia bảo hiểm) hoặc cũng có thể là người không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội (những người đang làm việc trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cơ quan bảo hiểm)

1.3. Mặt khách quan của tội phạm

Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. Các chế độ bảo hiểm xã hội gồm: Chế độ ốm đau; Thai sản; Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Hưu trí; Tử tuất.

Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Các chế độ bảo hiểm thất nghiệp gồm: Trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm; hỗ trợ Học nghề; hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động.

Hình minh họa. Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp thể hiện ở 2 dạng hành vi:

– Lập hồ sơ giả hoặc làm sai lệch nội dung hồ sơ bảo hiểm xã hội, hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp lừa dối cơ quan bảo hiểm xã hội chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp. Lập hồ sơ giả là hành vi lập hồ sơ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp trong đó có giấy tờ, tài liệu giả (ví dụ: giấy tờ, tài liệu không có thật, không do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc cấp không đúng quy định, không đúng thẩm quyền, không đúng thời hạn…) để thanh toán các chế độ: ốm đau; thai sản; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; hưu trí; tử tuất; trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm; hỗ trợ học nghề; hỗ trợ đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng để duy trì việc làm cho người lao động và chế độ khác theo quy định của pháp luật.

– Dùng hồ sơ giả hoặc hồ sơ đã bị làm sai lệch nội dung lừa dối cơ quan bảo hiểm xã hội hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp. Hành vi dùng hồ sơ giả có thể là trực tiếp làm giả hồ sơ rồi sử dụng hoặc thuê người khác làm giả hồ sơ.

* Các thủ đoạn của tội phạm thường thực hiện :

– Những gian lận trong bảo hiểm xã hội: Hành vi gian dối thể hiện trong việc làm giả hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội và dùng hồ sơ được làm giả này để lừa dối cơ quan bảo hiểm xã hội. Nội dung bị làm giả có thể là toàn bộ nhưng cũng có thể chỉ là một phần nhưng làm sai lệch nội dung của hồ sơ. Trong thực tế người phạm tội có thể móc nối với một số cá nhân có thẩm quyền để hợp pháp hóa hồ sơ, giấy tờ để hưởng bảo hiểm xã hội hoặc làm sai lệch các tiêu thức trong hồ sơ tư pháp (khai tăng tuổi đời, tăng thời gian công tác, thời gian đóng bảo hiểm xã hội…)

+ Về hồ sơ hưởng chế độ ốm đau: Khi người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bị ốm đau phải nghỉ việc để điều trị ngoại trú thì trong thời gian nghỉ việc, người lao động được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội thay lương bằng 75% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc. Căn cứ để thanh toán trợ cấp bảo hiểm xã hội trong trường hợp này là sổ bảo hiểm xã hội và giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội do cơ sở y tế điều trị cấp. Trong đó, giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội – giấy tờ minh chứng có sự kiện bảo hiểm xảy ra – là giấy tờ bị làm giả 100% (con dấu giả, chữ ký của bác sĩ cũng là chữ ký giả). Do đó, đây là trường hợp làm hồ sơ giả để lừa dối cơ quan bảo hiểm.

+ Về hồ sơ hưởng chế độ thai sản: Khác với hồ sơ thuộc chế độ ốm đau, giấy tờ được làm giả trong các hồ sở bảo hiểm xã hội để lừa dối cơ quan bảo hiểm trường hợp này là giấy tờ chứng minh cho quyền được hưởng chế độ bảo hiểm với nội dung là những thông tin về thời gian đóng bảo hiểm trong sổ bảo hiểm xã hội. Có trường hợp cá nhân thành lập công ty chỉ để hợp đồng tuyển lao động nữ đã có thai nhưng thực tế không làm việc và vẫn đăng ký đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ 6 tháng theo quy định, sau khi họ sinh con thì công ty làm thủ tục hưởng chế độ thai sản để lấy tiền của cơ quan bảo hiểm. Đây thực chất là trường hợp “gửi đóng bảo hiểm”, người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động và đóng toàn bộ số tiền bảo hiểm xã hội, người sử dụng lao động chỉ cần ký một hợp đồng “giả” để hợp thức hóa. Trong trường hợp này, người giúp sức là người sử dụng lao động đã cố ý ký hợp đồng lao động “giả” để hợp thức hóa thời gian đóng bảo hiểm xã hội.

+ Về hồ sơ hưởng chế độ tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp: Do đặc thù của loại hồ sơ này là phải có Biên bản giám định khả năng lao động thuộc trách nhiệm của Hội đồng giám định y khoa và người lao động được cấp để làm căn cứ tính mức hưởng chế độ bảo hiểm nên đối tượng thường gian lận giấy tờ xác định mức hưởng chế độ như giám định tăng tỷ lệ suy giảm khả năng lao động trong trường hợp người lao động muốn hưởng hàng tháng hoặc giảm tỷ lệ này trong trường hợp người lao động muốn hưởng chế độ một lần. Như vậy, việc gian lận này làm thay đổi nội dung của hồ sơ bảo hiểm xã hội lừa dối cơ quan bảo hiểm nhằm chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội.

+ Về hồ sơ hưởng chế độ tử tuất: Hành vi làm giả hồ sơ chủ yếu là không kê khai nhân thân đủ điều kiện hưởng tiền tuất hàng tháng để gia đình được hưởng tiền tuất một lần vì số tiền tuất một lần hiện nay đang chênh rất nhiều so với mức hưởng hàng tháng.

+ Về hồ sơ hưởng chế độ hưu trí: Nội dung hồ sơ bị làm giả rất đa dạng, từ kê khai sai năm sinh, sai thời gian công tác đến việc hợp thức hóa tỷ lệ mất khả năng lao động trong Biên bản giám định khả năng lao động (để đủ điều kiện về hưu trong một số trường hợp) đến làm giả hoàn toàn hồ sơ.

– Những gian lận trong bảo hiểm thất nghiệp: Đối tượng lập hồ sơ giả, dùng hồ sơ giả hoặc làm sai lệch nội dung hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp bằng những hình thức như: Người lao động chủ động nghỉ việc để hưởng bảo hiểm thất nghiệp sau đó có việc làm cũng không thông báo; Chủ sử dụng lao động thỏa thuận với người lao động làm thủ tục hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp nhưng thực tế người lao động vẫn làm việc tại đơn vị; Chủ sử dụng lao động bố trí cho người lao động nghỉ việc từng đợt để giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp;

Về hậu quả của tội phạm: Hậu quả của tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp đó là gây thiệt hại về tài sản cho cơ quan bảo hiểm, dẫn đến những rối loạn trong việc chi trả bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp. Cơ quan bảo hiểm phải trả những khoản tiền bảo hiểm không đúng so với thực tế. Hậu quả về vật chất là dấu hiệu bắt buộc đối với loại tội phạm này. Cụ thể: chiếm đoạt số tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp phải từ 10.000.000 đồng trở lên.

Về các dấu hiệu khách quan khác được quy định trong cấu thành tội phạm của tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp có thể là: Phương tiện phạm tội: hồ sơ, tài liệu, thông tin trong hồ sơ hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; Phương thức, thủ đoạn phạm tội; Thời gian, địa điểm phạm tội: thời gian yêu cầu bồi thường, trả tiền bảo hiểm; địa điểm yêu cầu bồi thường, trả tiền bảo hiểm…

1.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, tức là Người phạm tội biết rõ hành vi của mình là trái pháp luật, là hành vi gian dối để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, thấy trước được hậu quả của hành vi gian dối và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra. Không có hành vi gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp nào được thực hiện với lỗi cố ý gián tiếp.

Mục đích của người phạm tội là thu lợi. Biểu hiện của mục đích thu lợi là người phạm tội tìm cách chiếm đoạt tiền bảo hiểm của cơ quan bảo hiểm bằng việc lập hoặc dùng các hồ sơ giả.

2. Quy định hướng dẫn áp dụng 

Nghị Quyết 05/2019/NQ-HĐTP ngày 15/8/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 214 về tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp của Bộ luật Hình sự hướng dẫn cụ thể một số nội dung sau:

2.1. Về một số tình tiết định khung hình phạt

– Có tính chất chuyên nghiệp quy định tại điểm b khoản 2 điều 214 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế từ 05 lần trở lên (không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích) và người phạm tội lấy khoản lợi bất chính thu được từ việc phạm tội làm nguồn thu nhập.

 Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt quy định tại điểm đ khoản 2 điều 214 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội sử dụng công nghệ cao, móc nối với người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà nước hoặc thủ đoạn gian dối, mánh khóe khác để tiêu hủy chứng cứ, che giấu hành vi phạm tội, gây khó khăn cho việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm.

2.2. Về truy cứu trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp cụ thể

– Trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng một loại hành vi quy định tại các điều 214 của Bộ luật Hình sự chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trong các hành vi đó chưa có lần nào bị xử phạt vi phạm hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính hoặc chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu tổng số tiền bảo hiểm của các lần bị chiếm đoạt bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự, thì người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng theo tổng số tiền của các lần bị chiếm đoạt, nếu các hành vi được thực hiện liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian.

– Trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng một loại hành vi quy định tại các điều 214 của Bộ luật Hình sự gây thiệt hại cho quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trong các hành vi đó chưa có lần nào bị xử phạt vi phạm hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính hoặc chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu tổng số tiền của các lần bị thiệt hại bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự, thì người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng theo tổng số tiền của các lần gây thiệt hại, nếu các hành vi được thực hiện liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian.

– Trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội vừa chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp vừa gây thiệt hại mà số tiền bị chiếm đoạt, số tiền bị thiệt hại đều trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điều 214 của Bộ luật Hình sự thì xử lý như sau:

a) Nếu số tiền bảo hiểm bị chiếm đoạt, số tiền bị thiệt hại đều thuộc khung hình phạt cơ bản thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt cơ bản.

Ví dụ: Nguyễn Văn A thực hiện hành vi lập hồ sơ giả bảo hiểm xã hội chiếm đoạt 20.000.000 đồng và gây thiệt hại 150.000.000 đồng thì Nguyễn Văn A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 214 của Bộ luật Hình sự.

b) Nếu số tiền bảo hiểm bị chiếm đoạt, số tiền bị thiệt hại thuộc các khung hình phạt khác nhau thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt cao hơn.

Ví dụ: Nguyễn Văn A thực hiện hành vi lập hồ sơ giả bảo hiểm xã hội chiếm đoạt 20.000.000 đồng và gây thiệt hại 250.000.000 đồng thì Nguyễn Văn A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 214 của Bộ luật Hình sự.

c) Nếu số tiền bảo hiểm bị chiếm đoạt, số tiền bị thiệt hại cùng một khung hình phạt tăng nặng thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo cả hai tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Ví dụ: Nguyễn Văn B thực hiện hành vi lập hồ sơ giả bảo hiểm xã hội chiếm đoạt 150.000.000 đồng và gây thiệt hại 250.000.000 đồng thì Nguyễn Văn B bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp với tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 214 của Bộ luật Hình sự.

– Người thực hiện hành vi làm giả hồ sơ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp để chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp hoặc gây thiệt hại, ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng quy định tại các điều 214 của Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 341 của Bộ luật Hình sự nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

2.3. Về xác định tư cách tố tụng của cơ quan bảo hiểm xã hội

Trong các vụ án hình sự mà bị can, bị cáo bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, cơ quan bảo hiểm xã hội tham gia tố tụng với tư cách là bị hại.

5/5 - (4 bình chọn)

 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại bình luận