Vị trí của ngành luật hiến pháp trong hệ thống pháp luật VN

0

Hệ thống pháp luật Việt Nam được tạo thành bởi nhiều ngành luật khác nhau. Mỗi ngành luật đều có vị trí độc lập tương đối do được hình thành trên cơ sở nhóm đối tượng điều chỉnh riêng mà chúng điều chỉnh. Trong số đó, ngành LHP có một vị trí đặc biệt. Ngành LHP không chỉ là một ngành luật độc lập mà còn có vị trí là ngành luật chủ đạo của toàn hệ thống.

Vị trí chủ đạo cũng là nội dung của mối quan hệ giữa ngành LHP với các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Hiểu một cách đơn giản, vị trí chủ đạo có nghĩa là ngành LHP thiết lập “con đường”, bảo đảm “hướng đi” cho sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam. Nói cách khác, ngành LHP, bằng nội dung của các QPPL và các chế định của mình, vừa đóng vai trò tạo lập nền tảng, vừa dẫn dắt sự phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam cũng như các ngành luật khác trong hệ thống. Vị trí chủ đạo của ngành LHP thể hiện qua ba khía cạnh:

Thnhất, các QPPL của ngành LHP làm nền tảng hình thành các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam, từ những ngành luật lớn như Luật dân sự, Luật hình sự, Luật hành chính, tới các ngành luật nhỏ hơn như Luật thương mại, Luật lao động v.v.. Dưới đây là ví dụ về một số quy định của ngành LHP, cụ thể là của Hiến pháp năm 2013, làm nền tảng hình thành các ngành luật khác:

– Khoản 1 Điều 16 quy định: “Mi người đều bình đẳng trước pháp luật; khoản 1 Điều 20 quy định: Mọi người quyền bất khxâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hvề sức khoẻ, danh dự thân phẩm; khoản 1 Điều 21 quy định: “Mọi ngưi quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng , bí mật nhân mật gia đình; có quyền bảo vệ danh d, uy tín ca mình; Điều 42 quy định: ng dân quyền xác định dân tộc của mìnhv.v.. Đây là những quy định góp phần xây dựng nền tảng hình thành ngành luật dân sự.

– Điều 16 quy định: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; Điều 19 quy định: Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ”; khoản 1 Điều 20 quy định: “Mọi ni có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức kho, danh dự nhân phẩm”; Điều 48 quy định: “Người nước ngoài trú ở Việt Nam phi tuân theo Hiến pháp pháp luật Việt Nam; được bảo htính mạng, tài sản và các quyền, lợi ích chính đáng theo pháp lut Việt Nam; Điều 44 quy định: Phản bội Tổ quốc tội nặng nhấtv… Đây là những quy định góp phần xây dựng nền tảng hình thành ngành luật hình sự.

– Khoản 1 Điều 32 quy định: Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải đdành, nhà , liu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong c tổ chức kinh tế khác”; Điều 33 quy định: “Mọi người quyn tự do kinh doanh trong những ngành nghề pháp luật không cấm; khoản 2 Điều 51 quy định: “Các tnh phần kinh tế đều bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chthể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hp tác cạnh tranh theo pháp luật; khoản 3 Điều 51 quy định: “... Tài sản hợp pp của nhân, tchức đầu tư, sản xut, kinh doanh được pháp lut bảo hộ và kng bquốc hữu hóav.v.. Đây là những quy định nền tảng để hình thành ngành luật thương mại.

Đôi khi, sự ra đời hay thay đổi của một số quy định của ngành LHP cũng góp phần ra đời cả một ngành luật, ví dụ trường hợp của ngành luật thương mại. Trong giai đoạn 1980 – 1992, chúng ta chưa có ngành luật thương mại như hiện nay, bởi vì Hiến pháp năm 1980 khi đó quy định nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế XHCN vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp. Hiến pháp năm 1992 ra đời đã quy định Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường,’ công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật,” theo đó ngành luật thương mại được hình thành như ngày nay.

Hình minh họa. Vị trí của ngành luật hiến pháp trong hệ thống pháp luật VN

Thứ hai, do ngành LHP làm nền tảng hình thành các ngành luật khác nên nhiều ngành luật thể chế hoá các tư tưởng chứa đựng trong các QPPL của ngành LHP. Cũng chính vì điều này nên trong nhiều trường hợp, nếu các QPPL của các ngành luật đã lỗi thời và không còn phù hợp với tư tưởng của các QPPL tương ứng của ngành LHP thì các QPPL của các ngành luật cụ thể đó sẽ bị vô hiệu. Ví dụ minh hoạ rõ ràng nhất cho mối quan hệ này chính là giữa ngành LHP và các ngành luật thủ tục, ví dụ ngành luật tố tụng hình sự, tố tụng hành chính, tố tụng dân sự vv..

Thba, mỗi khi nội dung các QPPL của ngành LHP thay đổi thì nội dung của các QPPL và các chế định của các ngành luật khác cũng phải thay đổi cho phù hợp. Có thể nói nội dung của các QPPL của ngành LHP tạo thành chính sách pháp luật cơ bản định hướng việc xây dựng các ngành luật cụ thể. Chính sách cơ bản đó thay đổi sẽ kéo theo yêu cầu sửa đổi, bổ sung đối với các QPPL và chế định tương ứng của các ngành luật cụ thể. Ví dụ, đối với ngành luật thương mại, Hiến pháp năm 1992 quy định: “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp lut. Đến Hiến pháp năm 2013, quyền này được quy định như sau: Mọi người quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cm. Như vậy, chính sách của nhà nước đối với quyền tự do kinh doanh đã được cởi mở hơn rất nhiều. Các quy định của ngành luật thương mại giờ đây sẽ phải thể chế hoá tinh thần này và có những quy định cởi mở hơn, khuyến khích kinh doanh một cách hiệu quả hơn. Nhà nước giờ đây chỉ có quyền đặt ra những lĩnh vực bị cấm kinh doanh mà không có quyền hạn chế kinh doanh của người dân bên ngoài phạm vi các lĩnh vực cấm đó. Một ví dụ khác là quyền bào chữa. Điều 132 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho nh. Đến Hiến pháp năm 2013, quyền này đã được sửa đổi bởi khoản 4 Điều 31 như sau: Ngưi bị bắt, tm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Như vậy, quyền bào chữa của người dân đã được quy định rộng hơn rất nhiều so với trước đây, không những bị cáo mà bất cứ ai kể từ khi bị bắt, tạm giữ, tạm giam cho đến suốt quá trình tố tụng đều có quyền được bào chữa hoặc nhờ luật sư bào chữa. Ngành luật tố tụng hình sự, với Bộ luật tố tụng hình sự ban hành năm 2015 đã phải thể chế hoá tư tưởng này.

Như vậy, có thể hình dung hệ thống pháp luật Việt Nam như một kim tự tháp lớn, trong đó có nhiều kim tự tháp nhỏ tương ứng với các ngành luật. Trong mỗi kim tự tháp nhỏ, các QPPL của ngành LHP được đặt ở vị trí đỉnh tháp, thiết lập các nguyên tắc cơ bản định hình cấu trúc của kim tự tháp đó.

Lí do ngành LHP có vị trí nền tảng và chủ đạo trong hệ thống pháp luật Việt Nam là bởi vì đối tượng điều chỉnh của nó. Như đã đề cập, đối tượng điều chỉnh là nhân tố khách quan quyết định sự hình thành một ngành luật độc lập cũng như các đặc điểm riêng của ngành luật đó. Đối tượng điều chỉnh của ngành LHP là các quan hệ cơ bản nhất và quan trọng nhất trong xã hội, là những quan hệ nền tảng mà chỉ khi nào xác định được hướng điều chỉnh chúng thì mới xác định được hướng điều chỉnh các quan hệ cụ thể. Qua việc điều chỉnh các quan hệ cơ bản, quan trọng nhất trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, ngành LHP hình thành nên những QPPL nền tảng, cơ bản mà các QPPL của các ngành luật khác phải căn cứ vào khi điều chỉnh các QHXH cụ thể của từng lĩnh vực.

4.9/5 - (14 bình chọn)

 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại bình luận

Đây là nơi để trao đổi ý kiến bài viết hoặc yêu cầu download tài liệu. 

Một số lưu ý:

- Địa chỉ email bạn cung cấp tại trường "Email của bạn" sẽ không được công khai. (Không khuyến khích để lại thông tin email tại trường "Bình luận của bạn")

- KHÔNG sử dụng ngôn từ thiếu văn hoá, khiêu dâm, đe dọa, lăng nhục hay xúc phạm cá nhân, đơn vị hay tổ chức khác hoặc bình luận mang tính chất spam.