Bảo lưu trật tự công là gì?

0

Trật tự công” là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong tư pháp quốc tế tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng khái niệm về trật tự công lại rất mơ hồ. Người ta sử dụng và chấp nhận nó giống như một thực tế hiên nhiên, rõ ràng mà không cần một sự giải thích cặn kẽ, chi tiết nào.

Vậy thế nào trật tự công, định nghĩa về trật tự công hay không? Thực tế hầu như không bất một định nghĩa chính thống nào về trật tự công, kể cả văn bản pháp luật của quốc gia hay quốc tế cũng như các tài liệu nghiên cứu liên quan, không chỉ Việt Nam cả các quốc gia khác trên thế giới. Sở như vậy bởi trong pháp quốc tế khi trật tự công được vận dụng tức biện pháp cuối cùng đã được dùng tới để đảm bảo trật tự pháp luật quốc gia, để hệ thống pháp luật quốc gia không bị ảnh hưởng nghiêm trọng do các yếu tố bất lợi từ việc áp dụng pháp luật nước ngoài. Điều đó được cho chính đáng cần phải được tôn trọng. Nên nếu một khái niệm về trật tự công thì khái niệm đó khó thể bao quát đầy đủ mọi trường hợp thể xảy ra trên thực tế, vậy nguy ảnh hưởng đến trật tự pháp hoàn toàn thể. Một do nữa cho sự thiếu vắng một khái niệm chính thống về trật tự công, đó thể do mục đích cần một sự linh hoạt nhất định để bảo vệ tốt nhất trật tự pháp luật quốc gia nếu chỉ dựa vào một quy định cứng thì sẽ khó vận dụng.

Tại Việt Nam, nhiều tài liệu liên quan hay đồng nhất trật tự công với các nguyên tắc bản của pháp luật. dụ, Từ điển giải thích thuật ngữ luật học cho rằng trật tự côngcác nguyên tắc cơ bản của pháp luật mỗi quốc gia. Cách giải thích này ưu điểm đã làm cho một vấn đề hồ như trật tự công bớt hồ hơn, nhưng ngay cả việc coi trật tự công nguyên tắc bản, với mục đích để lượng hoá cũng như thực tế hơn thì việc bao nhiêu nguyên tắc được cho bản cũng vẫn một vấn đề không dễ xác định. Cho đến nay, pháp luật Việt Nam chưa văn bản nào quy định về các vấn đề này, cụ thể thế nào trật tự công, bao nhiêu nguyên tắc được cho bản đó những nguyên tắc nào, chính sự không ràng đó đôi khi bảo lưu trật tự công được như một giải pháp cao suhoặc giải pháp xođó thể căng hoặc trùngtùy theo từng sự vận dụng khác nhau của người áp dụng.

Hình minh họa. Bảo lưu trật tự công là gì?

Như trên đã trình bày, khái niệm trật tự côngcòn thiếu khuyết, nhưng được xem gần gũi nhất, tiệm cận nhất của trật tự công các nguyên tắc bản của hệ thống pháp luật quốc gia. Các nguyên tắc bản thường được hiểu các gtrị cốt lõi, nền tảng của hội. Mỗi quốc gia, mỗi hội đều các nguyên tắc của riêng mình, trong đó những nguyên tắc quan trọng được gọi các nguyên tắc bản. Các nguyên tắc này được hiểu những quy định nền tảng nhất, thiêng liêng nhất tạo nên những giá trị hiển nhiên cả hội công nhận. Thông thường tính chất đặc biệt đó của mình các nguyên tắc bản sẽ được ghi nhận trong các văn bản pháp luật chính thống nhất, giá trị pháp cao nhất. dụ, tại Việt Nam, các nguyên tắc bản được quy định trong Hiến pháp trong các văn bản luật như Bộ luật dân sự, Bộ luật lao động, Bộ luật ttụng dân sự... thế cần phải được tôn trọng bảo vệ từ tất cả các góc độ, khía cạnh, đòi hỏi sự tham gia của cả hệ thống chính trị, của toàn hội, của mỗi nhân... phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn phạm vi liên quan của nh. Nói như vậy nghĩa mỗi ngành nghề, lĩnh vực đều trách nhiệm bảo vệ gìn giữ các nguyên tắc bản đó. Bảo lưu tật tự công chính bảo vệ các nguyên tắc bản đó.

Trở lại vấn đề, vậy pháp quốc tế liên quan như thế nào đến bảo vệ trật tự công?

pháp quốc tế một ngành luật rất phức tạp, gắn liền với một hiện tượng độc đáo không ngành luật nào , đó để giải quyết các quan hệ của mình trong những trường hợp nhất định, quan thẩm quyền sẽ áp dụng pháp luật nước ngoài. Việc áp dụng pháp luật nước ngoài một tất yếu khách quan trong tư pháp quốc tế. một thực tế dễ nhận thấy luật nước ngoài thì không giống luật Việt Nam, sự không giống nhau này về mức độ, phạm vi... trong từng trường hợp khác nhau, thể sự mâu thuẫn, đối nghịch, thể chỉ là sự khác biệt nhỏ... nhưng về tổng thể thì hai hệ thống pháp luật của hai nước khác nhau. Vậy, khi quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài thì một câu hỏi đặt ra phải mọi trường hợp luật nước ngoài sẽ được áp dụng hay sẽ áp dụng điều kiện luật nước ngoài? Việc tìm câu trả lời không quá khó khăn bởi mỗi quốc gia đều chủ quyền của mình, vậy việc áp dụng pháp luật nước ngoài không thể điều kiện được, sẽ có trường hợp mặc các bên lựa chọn, quy phạm xung đột dẫn chiếu tới những quan thẩm quyền vẫn không áp dụng pháp luật nước ngoài trong trường hợp này do được đưa ra để bảo vệ trật tự công. Bởi nếu luật nước ngoài được áp dụng thể sẽ làm tổn hại, xâm phạm đến trật tự công. Từ đó thể thấy vấn đề trật tự công bảo lưu trật tự công trong pháp quốc tế thực tế chỉ liên quan đến vấn đề áp dụng pháp luật nước ngoài.

Nội dung của vấn đề bảo lưu trật tự công trong pháp quốc tế không áp dụng pháp luật ớc ngoài nếu hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài trái với nguyên tắc cơ bn của pháp luật Việt Nam. Điều này được quy định trong nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam.

Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì pháp luật nước ngoài không được áp dụng nếu hậu quả của việc áp dụng đó trái nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam và chỉ vì duy nhất lí do đó mà thôi, vì thế các cơ quan có thẩm quyền không thể từ chối áp dụng pháp luật nước ngoài vì các lí do không phải lí do đã nêu ở trên. Trong trường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài mà đưa đến một kết quả không như mong muốn hay tuy không trái với nguyên tắc bản nhưng cũng không được cho phù hợp với các quy định của pháp luật quốc gia thì đó được coi chưa đủ căn cứ để từ chối áp dụng pháp luật nước ngoài.

Một vấn đề nữa cần chú ý trong việc áp dụng bảo lưu trật tự công đó là việc không áp dụng pháp luật nước ngoài chỉ việc gạt bỏ một hay một số các quy phạm cụ thể nhất định của luật nước ngoài chứ không phải sự phủ nhận hoàn toàn việc áp dụng pháp luật nước ngoài. Trong một vụ việc cụ thể nếu những quy phạm cụ thể của luật nước ngoài đem vào áp dụng điều chỉnh quan hệ xảy đến tình trạng trái nguyên tắc bản của pháp luật Việt Nam thì không áp dụng các quy phạm đó của pháp luật nước ngoài, còn các quy phạm khác, thậm chí vẫn quy phạm đó nhưng áp dụng trong các tình huống khác nhưng không dẫn đến hậu quả này thì pháp luật nước ngoài vẫn được áp dụng.

Trường hợp khi các quan thẩm quyền áp dụng bảo lưu trật tự công tức sẽ không áp dụng pháp luật nước ngoài, điều đó sdẫn tới việc thiếu sự điều chỉnh. Để thay thế luật nước ngoài trong trường hợp này thông thường các nước sẽ áp dụng hệ thuộc luật toà án (Lex fori). Pháp luật Việt Nam quy định vấn đề này tại khoản 2 Điều 670 Bộ luật dân sự 2015.

Cuối cùng khi vận dụng bảo lưu trật tự công thì hiệu lực của quy phạm xung đột bị ảnh hưởng triệt tiêu) vì quy phạm xung đột xác định luật nước ngoài sẽ áp dụng để điều chỉnh quan hệ nhưng với lí do này mà luật theo sự dẫn chiếu đó đã không được áp dụng.

5/5 - (2 bình chọn)

 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại bình luận

Đây là nơi để trao đổi ý kiến bài viết hoặc yêu cầu download tài liệu. 

Một số lưu ý:

- Địa chỉ email bạn cung cấp tại trường "Email của bạn" sẽ không được công khai. (Không khuyến khích để lại thông tin email tại trường "Bình luận của bạn")

- KHÔNG sử dụng ngôn từ thiếu văn hoá, khiêu dâm, đe dọa, lăng nhục hay xúc phạm cá nhân, đơn vị hay tổ chức khác hoặc bình luận mang tính chất spam.