Biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam trong tố tụng hình sự

0

Bắt người là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với người người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người đang bị truy nã, người đang bị truy nã, bị can, bị cáo, nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội của họ, ngăn ngừa họ trốn tránh pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đỉều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.

Bắt người là hoạt động nhạy cảm có tác động trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân như: quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo hộ tính mạng, danh dự, nhân phẩm của công dân. Vì vậy, khi thực hiện hoạt động này cần phải cân nhắc thận trọng. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định 05 trường hợp bắt người sau: Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; bắt bị can, bị cáo để tạm giam; bắt người đang bị truy nã; bắt người đang bị truy nã; bắt người bị yêu cầu dẫn độ. Bài viết dưới đây HILAW sẽ đưa ra những quy định của pháp luật về biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam.


1. Bắt bị can, bị cáo để tạm giam là gì

Bắt bị can, bị cáo để tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với người đã bị khởi tố về hình sự hoặc người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử để tạm giam nhằm ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thỉ hành án hình sự.


2. Đối tượng áp dụng

Đối tượng bị bắt để tạm giam chỉ có thể là bị can hoặc bị cáo. Những người chưa bị khởi tố về hình sự hoặc người chưa bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử không phải là đối tượng bắt để tạm giam.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì bị can, bị cáo “có thể” bị bắt để tạm giam và bắt bị can, bị cáo để tạm giam không phải là biện pháp ngăn chặn duy nhất, vì thế không phải mọi bị can, bị cáo đều bị bắt để tạm giam. Việc quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam không phải căn cứ vào tính chất của tội phạm đã xảy ra, nhân thân người phạm tội và thái độ của người phạm tội sau khi thực hiện tội phạm. Điều đó có nghĩa là chỉ được bắt để tạm giam đối với một người khi có đủ căn cứ để xác định người đó đã thực hiện hành vi phạm tội mà xét thấy cần phải bắt để tạo điều kiện cho việc điều tra xử lý tội phạm.

Hình minh họa. Biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam trong tố tụng hình sự

3. Thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam

Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định những người sau đây có quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam:

+ Trong giai đoạn điều tra, việc bắt bị can để tạm giam do thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp trong và ngoài quân đội quyết định.

Lệnh bắt bị can để tạm giam của Cơ quan điều tra phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Sự phê chuẩn của Viện kiểm sát là thủ tục pháp lý bắt buộc nhằm kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của lệnh bắt để bảo đảm hiệu lực của lệnh bắt người cũng như sự cần thiết phải bắt tạm giam bị can. Ngoài ra, quy định việc xem xét để phê chuẩn lệnh bắt người của Cơ quan điều tra trước khi thi hành còn giúp hạn chế tình trạng lạm dụng quyền được áp dụng biện pháp ngăn chặn để tác động một cách trái pháp luật đến quyền con người, quyền công dân vì những mục đích cá nhân. Thời hạn xem xét để ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam là 03 ngày kể từ khi Viện kiểm sát nhận được công văn đề nghị xét phê chuẩn cùng các tài liệu có liên quan đến việc bắt. Trường hợp chưa rõ căn cứ để phê chuẩn hoặc để từ chối phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam, Viện kiểm sát làm văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung tài liệu chứng cứ để xác định rõ các căn cứ này trước khi ra quyết định.

+ Trong giai đoạn truy tố, việc bắt bị can để tạm giam do Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp quyết định.

+ Trong giai đoạn xét xử, việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam do Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử quyết định.


4. Thủ tục bắt bị can, bị cáo để tạm giam

– Việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam phải có lệnh của người có thẩm quyền; lệnh bắt phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị bắt và lý do bắt. Lệnh bắt phải có chữ ký của người ra lệnh và có đóng dấu cơ quan. Lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam phải bảo đảm yêu cầu pháp lý nêu trên mới có giá trị thi hành. Lệnh bắt bị can, bị cáo mà vi phạm quy định của pháp luật như bắt người theo lệnh miệng, lệnh bắt của người không có thẩm quyền, lệnh không ghi rõ ngày, tháng, năm họ tên, chức vụ của người ra lệnh, lệnh không có chữ ký của người có thẩm quyền, không đóng dấu cơ quan, lệnh bằng thư tay, lệnh bắt của Cơ quan điều tra không có phê chuẩn của Viện kiểm sát đều không có giá trị thi hành.

– Trước khi bắt, người thi hành lệnh bắt phải đọc và giải thích lệnh bắt, giải thích quyền và nghĩa vụ cho người bị bắt nghe. Người bị bắt có quyền yêu cầu người thi hành lệnh bắt đọc toàn văn lệnh bắt và giải thích lệnh. Trong trường hợp có nghi ngờ về lệnh bắt, người bị bắt có quyền yêu cầu cho xem lệnh bắt. Những yêu cầu đó phải được người thi hành lệnh bắt chấp nhận.

– Khi bắt phải lập biên bản bắt người. Biên bản ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm bắt, nơi lập biên bản; những việc đã làm, tình hình diễn biến trong khi thi hành lệnh bắt, thái độ của người bị bắt trong việc chấp hành lệnh bắt, những đồ vật, tài liệu có liên quan được phát hiện, bị tạm giữ và những yêu cầu, khiếu nại của người bị bắt. Biên bản phải được đọc cho người bị bắt và những người chứng kiến nghe. Người bị bắt, người thi hành lệnh bắt và người chứng kiến phải cùng ký tên vào biên bản. Nếu có ý kiến khác hoặc không đồng ý với nội dung biên bản thì họ có quyền ghi vào biên bản và ký tên.

– Khi tiến hành bắt người tại nơi cư trú của họ phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người khác chứng kiến.

– Khi tiến hành bắt người tại nơi làm việc, học tập của họ phải có mặt đại diện của cơ quan, tổ chức nơi người bị bắt làm việc, học tập chứng kiến.

– Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi đó chứng kiến.

Các quy định về thủ tục bắt người chặt chẽ như trên nhằm đề cao trách nhiệm cá nhân của người ra lệnh bắt và người thi hành lệnh bắt, bảo đảm bắt đúng người phạm tội cần bắt và những quyền chính đáng của người bị bắt, đồng thời cũng nhằm loại trừ những hành động của bọn lưu manh giả danh cán bộ đến bắt người hòng chiếm đoạt tài sản của công dân.

Không bắt bị can, bị cáo vào ban đêm.

Để bảo đảm lợi ích chính đáng của người bị bắt, thân nhân của họ và của những người láng giềng và tránh tình trạng căng thẳng do việc bắt người gây ra, Bộ luật còn quy định: Không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp bắt người phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã.

Việc quy định và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định nêu trên về việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam vừa thể hiện sự nghiêm khắc của Nhà nước trong đấu tranh phòng, chống tội phạm vừa là sự tôn trọng các quyền cơ bản của công dân, tránh mọi tác động trái pháp luật tới các quyền này.

5/5 - (9 bình chọn)

 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại một bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công khai.