Cầm cố tài sản là gì? Quy định pháp luật về cầm cố tài sản

0

1. Khái niệm cầm cố tài sản là gì?

Trong quan hệ nghĩa vụ, để bảo đảm quyền và các lợi ích của người có quyền không bị xâm phạm thì các bên có thể thỏa thuận xác lập một biện pháp bảo đảm đối vật, theo đó bên có nghĩa vụ phải giao cho người có quyền một tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có quyền đã có sẵn một tài sản mà người có nghĩa vụ đã giao cho mình để khấu trừ phần nghĩa vụ chưa được thực hiện. Vì vậy, về phương diện ngữ nghĩa thì cầm cố tài sản là việc một người cầm trước (giữ sẵn) một tài sản của người khác để bảo đảm cho quyền, lợi ích của mình.

Việc cầm cố tài sản thường được đặt ra bên cạnh một hợp đồng dân sự nhưng cũng có thể được đặt ra bên cạnh một nghĩa vụ ngoài hợp đồng. Bất luận ở trường hợp nào, cầm cố tài sản đều là kết quả của sự thoả thuận từ hai phía và với mục đích bên có nghĩa vụ hoặc người thứ ba phải bằng tài sản của mình để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ đó trước bên có quyền.

Cầm cố tài sản là việc một bên giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Biện pháp cầm cố được quy định từ Điều 309 đến Điều 316 Bộ luật Dân sự năm 2015.


2. Hình thức của cầm cố tài sản

Bộ luật Dân sự năm 2015 không xác định rõ về hình thức của cầm cố tài sản, tuy nhiên theo quy định tại Điều 310 Bộ luật Dân sự năm 2015 có thể hiểu nếu cầm cố tài sản là động sản thì có thể bằng hình thức miệng hoặc hình thức văn bản, nếu cầm cố bất động sản thì bắt buộc phải bằng văn bản.

Theo quy định tại điều luật trên thì văn bản cầm cố không nhất thiết phải công chứng hoặc chứng thực hoặc đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Thông thường, nếu tài sản cầm cố không phải đăng ký quyền sở hữu thì các bên không cần phải công chứng hoặc chứng thực. Tuy nhiên, để nâng cao độ an toàn pháp lý, các bên có thể thỏa thuận cầm cố phải có công chứng hoặc chứng thực.


3. Đối tượng của cầm cố tài sản

Nếu như đối tượng của các biện pháp bảo đảm nói chung có thể bao gồm nhiều loại tài sản, công việc phải thực hiện, uy tín) thì đối tượng của cầm cố tài sản chỉ có thể là tài sản. Vì vậy, đối tượng của cầm cố tài sản còn được gọi là tài sản cầm cố.

Mặc dù pháp luật hiện hành không có quy định về tài sản cầm cố nhưng xét theo bản chất của cầm cố là việc bên cầm cố phải giao tài sản cho bên nhận cầm cố giữ nên tài sản cầm cố chỉ có thể là vật có sẵn vào thời điểm giao dịch cầm cố được xác lập. Giấy tờ có giá chỉ có thể là tài sản cầm cố nếu bản thân giấy tờ đó là một loại tài sản.

Vật dùng để cầm cố có thể là động sản hoặc bất động sản (nếu pháp luật có quy định) nhưng phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

Thứ nhất, vật cầm cố phải thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố

Khi người có nghĩa vụ giao tài sản cầm cố cho người có quyền, từ thời điểm đó họ bị hạn chế một số quyền năng đối với tài sản của mình. Bên nhận cầm cố chiếm hữu tài sản đó đồng thời có quyền định đoạt nó khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên cầm cố không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ (nếu có thỏa thuận).

Vì vậy, tài sản là đối tượng của cầm cố phải thuộc sở hữu của người cầm cố. Nếu tài sản thuộc sở hữu chung của nhiều người thì việc cầm cố tài sản đó phải được sự đồng ý của tất cả các đồng chủ sở hữu. | Trong thực tế, việc xác định tài sản cầm cố có thuộc sở hữu của người cầm cố hay không sẽ tương đối dễ dàng nếu tài sản đó có giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu. Nhưng sẽ là một việc làm hết sức khó khăn nếu đối tượng của cầm cố là một loại tài sản không có đăng ký quyền sở hữu. Trong những trường hợp này, người cầm cố phải hết sức thận trọng và chỉ nhận vật khi có đủ cơ sở để khẳng định chắc chắn vật đó thuộc sở hữu của người cầm cố thì quyền lợi của mình mới được bảo đảm.

Theo thông lệ, những tài sản không có đăng ký quyền sở hữu được suy đoán là thuộc sở hữu của người chiếm hữu thực tế. Mặt khác, để bên kia chấp nhận, người cầm cố bao giờ cũng khẳng định tài sản đó thuộc sở hữu của mình. Vì vậy, người nhận cầm cố khó có căn cứ để xác định tài sản đó có thuộc sở hữu của bên cầm cố hay không? Và vì thế, việc pháp luật quy định tài sản cầm cố phải thuộc sở hữu của bên cầm cố là một điều tương đối bất lợi đối với bên nhận cầm cố. Nếu tài sản không thuộc sở hữu của người cầm cố, dù đó là do người cầm cố lừa dối (chẳng hạn người mượn vật của người khác và nói dối là của mình để cầm cố) thì người nhận cầm cố vẫn là người trước tiên phải gánh chịu hậu quả. Nếu tài sản được thu hồi để giao về cho chủ sở hữu đích thực của nó thì người nhận cầm cố sẽ không còn gì để bảo đảm cho quyền lợi của mình nữa, không còn quyền ưu tiên trong việc thanh toán khoản nợ từ tài sản cầm cố.

Tuy nhiên, nguyên tắc tài sản phải thuộc sở hữu của bên cầm cố được loại trừ trong trường hợp bên cầm cố là doanh nghiệp nhà nước. Các tài sản mà các doanh nghiệp nhà quản lý là tài sản thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là chủ sở hữu. Đế các doanh nghiệp của mình có thể hoạt động bình thường trong việc thực hiện chức năng, mục đích của nó, Nhà nước đã giao cho các doanh nghiệp này tài sản và quyền quản lý tài sản. Vì vậy, các doanh nghiệp nhà nước, dù không phải là chủ sở hữu đối với tài sản nhưng vẫn có thể dùng tài sản thuộc quyền quản lý của mình để cầm cố bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Thứ hai, vật cầm cố phải là vật được phép chuyển giao

Khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp cầm cố đến thời hạn mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ thì bên cầm cố được quyền bán tài sản cầm cố. Tuy nhiên, bên cầm cố chỉ có thể bán tài sản nếu tài sản đó là tài sản được phép chuyển giao trong giao dịch dân sự. Vì vậy, nếu tài sản cầm cố là tài sản mà pháp luật cấm giao dịch thì không chỉ giao dịch cầm cố đó vô hiệu mà người nhận cầm cố còn không thể xử lý được tài sản đó.

Hình minh họa. Cầm cố tài sản là gì? Quy định pháp luật về cầm cố tài sản

4. Chủ thể của cầm cố tài sản

4.1. Bên cầm cố

Bên cầm cố là bên phải giao tài sản để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ. Thông thường, bên cầm cố là bên có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp cầm cố đó. Chẳng hạn, B giao tài sản của mình cho A giữ để vay tiền của A. Trong nhiều trường hợp khác người cầm cố có thể là người thứ ba. Người thứ ba cầm cố tài sản là người không thuộc các bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm giao tài sản của mình cho bên có quyền để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ đó. Chẳng hạn, C giao tài sản của mình cho A để bảo đảm việc B trả khoản tiền mà B đã vay của A.

4.2. Bên nhận cầm cố

Bên nhận cầm cố là bên nhận tài sản từ bên cầm cố để bảo đảm cho quyền và lợi ích của mình trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ nghĩa vụ. Bên nhận cầm cố bao giờ cũng là bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp cầm cố đó.


5. Hiệu lực và thời hạn của cầm cố tài sản

Hợp đồng cầm cố có hiệu lực đối với các bên trong hợp đồng từ thời điểm giao kết và có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bên nhận cầm cố nắm giữ tài sản cầm cố. Trong trường hợp tài sản cầm cố là bất động sản và việc cầm cố được đăng ký giao dịch bảo đảm thì có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.

Thời hạn cầm cố tài sản do các bên thỏa thuận. Nếu các bên không có thoả thuận thì thời hạn cầm cố tài sản được tính từ thời điểm bên cầm cố nhận tài sản cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố.


6. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong cầm cố tài sản

6.1. Quyền và nghĩa vụ của bên cầm cố tài sản

6.1.1. Nghĩa vụ của bên cầm cố

– Phải giao tài sản cầm cố theo đúng thỏa thuận

Bên cầm cố phải giao tài sản theo đúng phương thức thỏa thuận cho bên nhận cầm cố để bên này chiếm hữu, quản lý trong thời hạn cầm cố.

– Bên cầm cố phải thông báo cho bên nhận cầm cố biết về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố.

Quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố được hiểu là quyền chủ quan của một người khác đối với tài sản cầm cố, mà quyền đó đã xuất hiện trước khi các bên thỏa thuận về biện pháp cấm cô. Vì vậy, nghĩa vụ trên đòi hỏi người câm cô phải thông báo về tình trạng của đối tượng cầm cố, cũng như những hạn chế đối với nó cho người nhận cầm cố biết ngay tại thời điểm các bên thỏa thuận thiết lập biện pháp cầm cố. Do đó, nếu sau khi biện pháp cầm cố đã có hiệu lực, người cầm cố mới thông báo về tình trạng trên thì họ vẫn bị coi là đã vi phạm nghĩa vụ. Trong các trường hợp này, bên nhận cầm cố có quyền huỷ hợp đồng cầm cố tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố.

– Bên cầm cố phải thanh toán cho bên nhận cầm cố những chi phí cần thiết để bảo quản tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Chủ sở hữu là người được hưởng những lợi ích từ tài sản thuộc sở hữu của mình đồng thời phải bỏ ra những chi phí để bảo quản, giữ gìn vật đó. Vì thế, dù tài sản do bên nhận cầm cố trực tiếp giữ hay do người thứ ba giữ và bảo quản thì thì việc thanh toán các chi phí liên quan vẫn thuộc về bên cầm cố. Tuy nhiên, trong trường hợp người thứ ba giữ tài sản cầm cố theo hợp đồng gửi giữ tài tài sản được xác lập giữa họ với bên nhận cầm cố thì bên nhận cầm cố đóng vai trò như là người trung gian trong việc thanh toán các chi phí này.

6.1.2. Quyền của bên cầm cố

– Yêu cầu bên nhận cầm cố đình chỉ việc sử dụng tài sản cầm cố nếu do sử dụng mà tài sản cầm cố có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị.

Trong trường hợp các bên thỏa thuận về việc bên nhận cầm cố được quyền sử dụng tài sản đó nhưng việc nếu việc sử dụng nguy cơ làm cho cho tài sản cầm cố bị mất hoặc giảm sút giá trị thì bên cầm cố có quyền yêu cầu bên nhận cầm cố đình chỉ việc sử dụng tài sản đó.

– Yêu cầu bên nhận cầm cố phải hoàn trả tài sản cầm cố sau khi nghĩa vụ đã được thực hiện.

Mục đích cơ bản của cầm cố là bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ và việc bảo đảm chỉ đặt ra khi nghĩa vụ chưa được thực hiện. Vì vậy, khi bên cầm cố đã thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ thì người nhận cầm cố hoặc người thứ ba phải trả lại tài sản cầm cố. Nếu bên cầm cố có bàn giao kèm theo giấy tờ đăng ký quyền sở hữu thì bên cầm cố được yêu cầu bên nhận cầm cố phải trả lại giấy tờ đó cho cùng với việc trả lại tài sản cầm cố.

Trường hợp cầm cố có đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì các bên phải thông báo cho cơ quan đó biết việc chấm dứt cầm cố.

Trong trường hợp bên nhận cầm cố bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, cho mượn tài sản cầm cố, đem tài sản cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác trái với quy định của pháp luật thì bên cầm cố có quyền đòi lại tài sản đó và yêu cầu bên nhận cầm cố bồi thường thiệt hại xảy ra. Nếu bên cầm cố không có quyền đòi lại tài sản trong các trường hợp theo quy định của pháp luật về sở hữu thì có quyền yêu cầu bên cầm cố bồi thường thiệt hại.

– Yêu cầu bên giữ tài sản cầm cố bồi thường thiệt hại xảy ra đối với tài sản cầm cố.

Bên nhận cầm cố phải bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố. Vì vậy, trong trường hợp người nhận cầm cố không bảo quản hoặc bảo quản không tốt tài sản mà gây ra thiệt hại thì phải bồi thường cho người cầm cố.

6.2. Quyền và nghĩa vụ của bên nhận cầm cố tài sản

6.2.1. Nghĩa vụ của bên nhận cầm cố

– Bảo quản, giữ gìn tài sản.

Việc người nhận cầm cố chiếm hữu tài sản cầm cố trong một thời hạn nhất định làm xuất hiện ở người đó nghĩa vụ bảo quản, giữ gìn tài sản trong suốt thời gian chiếm hữu.

– Không được bán, trao đổi, tặng, cho, cho thuê, cho mượn tài sản cầm cố; không được đem tài sản cầm cố để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ khác.

Người nhận cầm cố chỉ có quyền chiếm hữu đối với tài sản cầm cố. Vì vậy, trong thời hạn cầm cố nếu họ thực hiện các hành vi nói trên sẽ bị coi là thực hiện hành vi bất hợp pháp và người cầm cố có thể đòi lại tài sản ở người đang thực tế chiếm hữu, dù rằng đó là tài sản mà mình đã đem đi cầm cổ. Tuy nhiên, các hành vi nói trên sẽ được coi là hợp pháp nếu có thỏa thuận hoặc đó là nội dung của biện pháp xử lý tài sản cầm cố, được người nhận cầm cố thực hiện sau khi đến hạn mà nghĩa vụ không được thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ.

– Không được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố nếu không được bên cầm cố đồng ý.

Người nhận cầm cố không phải là chủ sở hữu của tài sản cầm cố. Vì vậy, ngoài quyền chiếm hữu ra họ không có quyền năng nào khác, nếu không được chủ sở hữu của tài sản đồng ý và cho phép. Về nguyên tắc, hành vi không” khai thác công dụng tài sản là một nghĩa vụ của người nhận cầm cố. Tuy nhiên, nếu có sự thoả thuận và đồng ý của bên cầm cố thì việc khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản lại là quyền của bên nhận cầm cố.

– Trả lại tài sản cầm cố khi nghĩa vụ bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt hoặc được thay thế bằng một biện pháp bảo đảm khác.

Cầm cố chỉ là một nghĩa vụ phụ được đặt ra bên cạnh một nghĩa vụ chính để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ chính. Khi nghĩa vụ chính chấm dứt, biện pháp cầm cố sẽ trở nên không cần thiết nữa. Vì vậy, ngay sau khi nghĩa vụ chính chấm dứt, người nhận cầm cố phải trả lại tài sản cho bên cầm cố đúng với tình trạng như lúc nhận vật cầm cố. Thông thường, tài sản cầm cố là những vật đặc định vì người nhận cầm cố phải trả lại chính tài sản mà họ đã nhận. Nếu tài sản là vật cùng loại thì bên nhận cầm cố phải trả lại tài sản đó đúng chất lượng, đủ số lượng, trọng lượng như đã nhận. Ngoài ra, nếu các bên đã thoả thuận biện pháp bảo đảm khác để thay thế biện pháp cầm cố, thì kể từ thời điểm được coi là thay thế, người nhận cầm cố phải trả lại tài sản cầm cố cho người cầm cố.

– Bên nhận cầm cố phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố nếu làm mất hoặc hư hỏng tài sản cầm cố.

Nghĩa vụ này là một dạng trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Vì vậy, theo nguyên tắc chung của việc bồi thường thiệt hại, người nhận cầm cố chỉ phải bồi thường nếu họ có lỗi trong việc làm hư hỏng, mất mát tài sản.

6.2.2. Quyền của bên nhận cầm cố

– Yêu cầu người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật tài sản cầm cố hoàn trả tài sản đó.

Đây là quyền của người nhận cầm cố nói riêng cũng là quyền của người chiếm hữu hợp pháp nói chung đối với một tài sản. Với tư cách là người chiếm hữu hợp pháp tài sản cầm cố, người nhận cầm cố có quyền đòi lại vật đó ở bất cứ người nào. Quyền này thực chất là một yếu tố trong nội dung của quyền sở hữu mà người cầm cố đã chuyển giao cùng với việc chuyển giao tài sản cho người nhận cầm cố.

– Yêu cầu xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ, nếu bên cầm cố không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ.

Yêu cầu này chỉ được đặt ra khi đến thời hạn mà nghĩa vụ chính không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng, nhằm qua đó để thoả mãn quyền được thanh toán các khoản lợi ích vật chất của người nhận cầm cố.

– Được thanh toán các chi phí bảo quản tài sản cầm cố hợp lý khi trả lại tài sản cho bên cầm cố.

Trong thời hạn giữ tài sản cầm cố, người chiếm hữu tài sản phải bảo quản, giữ gìn để tài sản không hư hỏng, mất mát. Tuy nhiên, khi người nhận cầm cố phải bỏ ra các chi phí để bảo quản tài sản thì thực chất là họ đã thực hiện một công việc thay cho bên cầm cố (thực hiện việc bảo dưỡng, duy trì tài sản thay cho chủ sở hữu của nó). Vì vậy, họ có quyền yêu cầu người cầm cố thanh toán lại cho mình các khoản chi phí cần thiết trong việc bảo quản, giữ gìn tài sản. Việc thanh toán các khoản chi phí này được tiến hành cùng thời điểm với việc thanh toán món nợ trong nghĩa vụ chính và trả lại tài sản cầm cố.


7. Xử lý tài sản cầm cố và chấm dứt cầm cố

Khi đến thời hạn phải thực hiện nghĩa vụ mà bên cầm cố tài sản không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên nhận cầm cố có quyền xử lý tài sản cầm cố để bù đắp cho mình các khoản lợi ích bên kia không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ.

Nếu khi thỏa thuận về việc cầm cố các bên đã thoả thuận về phương thức xử lý tài sản cầm cố thì bên nhận cầm cố được xử lý tài sản theo phương thức đó. Tuỳ thuộc vào sự xác định khi hai bên thỏa thuận mà người nhận cầm cố có thể tự mình tiến hành các hành vi tác động trực tiếp đến tài sản để thỏa mãn quyền lợi của mình hoặc các bên có thể cùng nhau tiến hành

việc xử lý tài sản mà không cần đến sự can thiệp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đây là biện pháp tiện lợi nhất nên thường được các bên áp dụng trong thực tế.

Trong trường hợp các bên chưa thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản cầm cố thì tài sản cầm cố được bán đấu giá theo quy định của pháp luật. Bên nhận cầm cố được thanh toán từ số tiền thu được do bán đấu giá sau khi trừ chi phí bảo quản tài sản và chi phí bán đấu giá. Thông qua việc bán đấu giá, quyền lợi của bên nhận cầm cố được bảo đảm đồng thời cũng bảo đảm được lợi ích cho bên cầm cố. Vì rằng, việc bán đấu giá phải tuân theo quy định của pháp luật (xem thêm phần hợp đồng mua bán tài sản) và tránh được tình trạng người nhận cầm cố cố tình bán cho được tài sản, miễn sao thu hồi đủ được khoản nợ mà không tính đến sự thất thiệt của bên kia.

Khi tài sản cầm cố được xử lý sẽ chấm dứt cầm cố tài sản. Ngoài ra, cầm cố tài sản còn được coi là chấm dứt khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt; việc cầm cố tài sản được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác hoặc theo thoả thuận của các bên.

5/5 - (12 bình chọn)

 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại một bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công khai.