Chế độ pháp lý về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước

0

1. Khái niệm phân cấp quản lý ngân sách nhà nước

Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước (NSNN) là việc phân định trách nhiệm quyền hạn, nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quản lý và điều hành NSNN.

Chế độ pháp lý về phân cấp quản lý NSNN là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình phân định trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực NSNN và các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện việc phân giao nguồn thu và chi của ngân sách các cấp. Phân cấp quản lý Nhà nước về ngân sách sẽ giúp cho việc xác định một cách rõ ràng thẩm quyền và trách nhiệm giữa các cấp quản lý Nhà nước về ngân sách, đảm bảo giải quyết kịp thời các nhiệm vụ quản lý Nhà nước về ngân sách.


2. Nguyên tắc phân cấp quản lý Ngân sách nhà nước

Tổ chức và hoạt động của Nhà nước Việt Nạm hiện hành được thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ vừa đảm bảo quyền lực Nhà nước tập trung ở Trung ương nhưng đồng thời cũng tạo quyền chủ động cho chính quyền địa phương.

Như vậy, phân cấp Ngân sách phải đảm bảo tính chủ động và phát huy khả năng địa phương, đồng thời phải giữ vai trò chủ đạo của Trung ương vì NSNN là một thể thống nhất. Do đó phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa tập trung và dân chủ.

Phân cấp NSNN nhằm giải quyết những mục tiêu sau:

– Giải quyết mối quan hệ giữa các cấp chính quyền trong việc ban hành các văn bản liên quan tới NSNN.

– Giải quyết mối quan hệ vật chất trong quá trình phân giao nhiệm vụ chi, nguồn thu và cân đối Ngân sách.

– Giải quyết mối quan hệ trong quá trình lập, chấp hành, quyết toán NSNN.

Việc phân cấp quản lý NSNN phải phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh của nhà nước và năng lực quản lý của mỗi cấp trên địa bàn.

Ngân sách trung ương và Ngân sách địa phương cần phải được phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể, trong đó ngân sách trung ương phải giữ vai trò chủ đạo và ngân sách địa phương phải có vị trí độc lập tương đối.

Ngân sách trung ương chịu trách nhiệm cho những khoản chi lớn, có ích lợi trên diện rộng, không bó hẹp trong phạm vi một địa phương nào; sở hữu những khoản thu lớn giữ vai trò chủ đạo.

Ngân sách địa phương có vị trí độc lập tương đối đảm bảo tính chủ động của địa phương, có thể điều chỉnh phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương.

Việc phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương sẽ do Hội đồng nhân dân quyết định, trong đó cấp xã phải được tăng cường nguồn thu, phương tiện và cán bộ quản lý tài chính để quản lý tốt các nguồn lực tài chính trên địa bàn được phân cấp như ngân sách thị xã, thành phố thuộc tỉnh được hưởng tối thiểu 50% khoản thu lệ phí trước bạ, không kể lệ phí trước bạ nhà, đất…

Hình minh họa. Chế độ pháp lý về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước

3. Nội dung chế độ pháp lý của việc phân cấp quản lý Ngân sách nhà nước

3.1. Trách nhiệm quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong quản lý Ngân sách nhà nước

Quốc hội: là cơ quan duy nhất có thẩm quyền làm luật và sửa đổi luật; quyết định chính sách tài chính tiền tệ quốc gia để phát triển kinh tế xã hội bảo đảm cân đối thu chi NSNN; quyết định dự toán NSNN với các chỉ tiêu tổng số thu, tổng số chi NSNN, mức bội chi NSNN và nguồn bù đắp; quyết định phân bổ ngân sách trung ương, dự toán chi ngân sách trung ương, mức phân bổ từ ngân sách trung ương cho từng địa phương; quyết định các dự án, công trình quan trọng quốc gia được đầu tư từ nguồn NSNN; giám sát quá trình thực hiện NSNN; phê chuẩn quyết toán NSNN; quyết định điều chỉnh dự toán NSNN trong trường hợp cần thiết; bãi bỏ các văn bản cấp dưới ban hành liên quan đến NSNN.

Uỷ ban thường vụ quốc hội: Ban hành quy chế lập, thẩm tra, trình quốc hội quyết định dự toán.

Uỷ ban kinh tế và ngân sách của Quốc hội: Thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh và các dự án khác về lĩnh vực tài chính – ngân sách do Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội giao; chủ trì thẩm tra dự toán NSNN, phương án phân bổ ngân sách trung ương, các báo cáo về thực hiện NSNN và quyết toán NSNN do Chính phủ trình Quốc hội; giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về lĩnh vực tài chính – ngân sách; giám sát việc thực hiện NSNN và chính sách tài chính; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương hoặc giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội về lĩnh vực tài chính – ngân sách; kiến nghị các vấn đề về quản lý lĩnh vực tài chính – ngân sách.

Hội đồng dân tộc và các uỷ ban khác của quốc hội: Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, phối hợp với Uỷ ban kinh tế và ngân sách của Quốc hội thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh, dự toán NSNN, phương án phân bổ ngân sách trung ương và các dự án khác về lĩnh vực tài chính – ngân sách do Chính phủ trình Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; giám sát việc thực hiện pháp luật về lĩnh vực tài chính ngân sách việc thực hiện nghị quyết của Quốc hội về lĩnh vực tài chính ngân sách trong lĩnh vực phụ trách; kiến nghị các vấn đề về tài chính ngân sách trong lĩnh vực phụ trách.

Bộ tài chính: Chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh, các dự án khác về lĩnh vực NSNN trình Chính phủ, ban hành các văn bản pháp quy thuộc thẩm quyền; giúp Chính phủ trong việc hướng dẫn kiểm tra các Bộ, Ngành lập dự toán NSNN; quản lý quỹ Ngân sách; tập hợp các quyết toán của các chính quyền Nhà nước và chính quyền địa phương giúp Chính phủ có số liệu để trình trước Quốc hội.

Hội đồng nhân dân các cấp: Quyết định dự toán Ngân sách địa phương trên cơ sở dự toán Ngân sách được Quốc hội thông qua; quyết định phân phối Ngân sách cấp mình; quyết định điều chỉnh dự toán Ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết; Phê chuẩn quyết toán Ngân sách cấp mình.

Uỷ ban nhân dân các cấp: Chịu trách nhiệm thi hành Luật, văn bản Luật, Ngân sách của Hội đồng nhân dân cùng cấp; chỉ đạo thực hiện thu dài trong phạm vi địa phương; lập dự toán và phương án phân bổ Ngân sách địa phương, dự toán điều chỉnh Ngân sách địa phương; lập quyết toán Ngân sách địa phương trình hội đồng nhân dân cùng cấp; Báo cáo về NSNN theo quy định của pháp luật.

3.2. Phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi

Cơ cấu tổ chức hệ thống NSNN được tổ chức theo hệ thống cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước để thuận tiện cho việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của các cấp chính quyền nhà nước. Vì vậy việc phân định nguồn thu chi được phân định theo các cấp trong bộ máy nhà nước. Mỗi cấp đều có nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể.

3.2.1. Đối với cấp Ngân sách trung ương

Về phân cấp quản lý nguồn thu:

Nguồn thu ngân sách trung ương hưởng 100% (nguồn thu cố định): là các khoản thu dù phát sinh trên địa bàn địa phương nào cũng phải chuyền toàn bộ về cho ngân sách trung ương. Bao gồm:

Thu từ thuế xuất, nhập khẩu;

– Thu từ thuế giá trị gia tăng đối với hàng nhập khẩu;

– Thu từ thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hoá nhập khẩu;

– Thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp đối với đơn vị hạch toán toàn ngành;

– Thu từ các khoản thuế và thu khác từ hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí;

-Thu từ tiền thu hồi vốn của ngân sách trung ương tại các cơ sở kinh tế, thu hồi tiền cho vay của ngân sách trung ương (cả gốc và lãi), thu từ Quỹ dự trữ tài chính của Trung ương, thu nhập từ vốn góp của ngân sách Trung ương;

– Thu từ viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoài cho Chính phủ Việt Nam.

– Thu từ các khoản phí, lệ phí thuộc Ngân sách Trung ương: Lệ phí xuất nhập cảnh, lệ phí bay qua bầu trời, phí giao thông của một số đường quan trọng do Trung ương quản lý.

– Thu kết dư Ngân sách Trung ương;

– Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.

Nguồn thu ngân sách trung ương hưởng theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương (gọi là khoản thu điều tiết): là các khoản thu phát sinh trên địa bàn địa phương nào thì ngân sách địa phương đó được hưởng một tỷ lệ nhất định, phần còn lại phải nộp cho ngân sách trung ương. Bao gồm:

– Thu từ thuế giá trị gia tăng (không kể thuế giá trị gia tăng đối với hàng nhập khẩu);

– Thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp (không kể thuế thu nhập doanh nghiệp đối với đơn vị hạch toán toàn ngành);

– Thu từ thuế thu nhập cá nhân;

– Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, không kể thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài từ lĩnh vực dầu khí;

– Thu từ thuế tiêu thụ đặc biệt từ hàng hoá dịch vụ trong nước; – Thu từ phí xăng, dầu.20

Về phân cấp thực hiện nhiệm vụ chi:

Ngân sách trung ương thực hiện nhiệm vụ chi trên phạm vi cả nước. Bao gồm thực hiện nhiệm vụ chi trên các lĩnh vực sau:

Chi đầu tư phát triển:

Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội không có khả năng thu hồi vốn do trung ương quản lý.

– Đầu tư và hỗ trợ cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nước, góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của nhà nước. – Chi bổ sung dự trữ nhà nước.

– Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.

Chi thường xuyên:

– Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, các hoạt động sự nghiệp khác do các cơ quan trung ương quản lý.

– Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do cơ quan trung ương quản lý: giao thông, nông nghiệp…

– An ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội không kể phần giao cho địa phương.

– Hoạt động của các cơ quan trung ương của nhà nước, Đảng cộng sản Việt Nam và các tổ chức Chính trị – xã hội: mặt trận tổ quốc, Trung ương đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, hội cựu chiến binh. – Trợ giá theo chính sách của Nhà nước.

– Các chương trình quốc gia do trung ương thực hiện;

– Hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của Chính phủ. – Trợ cấp cho đối tượng chính sách xã hội do Trung ương đảm nhận.

– Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp ở Trung ương theo quy định của pháp luật.

– Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.

Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay;

Chi viện trợ;

Chi cho vay theo quy định của pháp luật;

Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính của Trung ương;

Chi bổ sung cho Ngân sách địa phương;21

3.2.2. Đối với cấp Ngân sách địa phương

Về phân cấp quản lý nguồn thu:

Nguồn thu ngân sách địa phương được hưởng cố định (100%): là những khoản thu phát sinh ở địa bàn địa phương nào thì ngân sách địa phương đó được hưởng toàn bộ. Bao gồm:

– Thu từ thuế nhà, đất;

– Thu từ thuế tài nguyên không kể thuế tài nguyên thu từ dầu, khí;

– Thu từ thuế môn bài;

– Thu từ thuế chuyển quyền sử dụng đất;

– Thu từ thuế sử dụng đất nông nghiệp;

– Thu từ tiền sử dụng đất;

– Thu từ tiền cho thuê đất;

– Thu từ tiền cho thuê và bán nhà thuộc sở hữu nhà nước;

– Thu từ lệ phí trước bạ;

– Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết;

– Thu từ tiền thu hồi vốn của ngân sách địa phương tại các tổ chức kinh tế, thu từ quỹ dự trữ tài chính của địa phương, thu nhập từ vốn góp của địa phương;

– Thu từ viện trợ không hoàn lại của các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho địa phương; – Thu từ các khoản phí, lệ phí, thu từ hoạt động sự nghiệp và các khoản thu khác nộp vào ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật;

– Thu từ quỹ đất công ích và hoa lợi công sản khác;

– Thu từ huy động từ các tổ chức, các nhân theo quy định của pháp luật;

– Thu từ đóng góp tự nguyện của các cá nhân, tổ chức ở trong nước và ngoài nước;

– Thu kết dư Ngân sách địa phương;

– Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật;

Nguồn thu theo tỷ lệ phần trăm (%): Ngân sách địa phương ngoài các khoản thu điều tiết giữa trung ương và địa phương do trung ương quyết định, còn có khoản thu điều tiết giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định. Ngoài ra địa phương còn có thể hưởng nguồn thu bổ sung từ ngân sách trung ương, từ hoạt động huy động vốn đầu tư cơ sở hạ tầng.

Về phân cấp thực hiện nhiệm vụ chi:

Chi của Ngân sách địa phương cũng bao gồm những khoản như Ngân sách trung ương về nội dung và tính chất nhưng khác về phạm vi và đối tượng chi.

Chi đầu tư phát triển:

– Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội do địa phương quản lý.

– Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của nhà nước theo quy định của pháp luật.

– Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.

Chi thường xuyên:

– Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, các hoạt động sự nghiệp khác do địa phương quản lý. – An ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội phần giao cho địa phương.

– Hoạt động của các cơ quan nhà nước, Đảng cộng sản Việt Nam và các tổ chức Chính trị – xã hội ở địa phương.

– Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp ở địa phương theo quy định của pháp luật.

– Thực hiện các chính sách xã hội đối với các đối tượng do địa phương quản lý.

– Chương trình quốc gia do Chính phủ giao cho địa phương quản lý.

– Trợ giá theo chính sách của nhà nước.

– Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.

Chi trả nợ góc và lãi các khoản tiền huy động cho đầu tư. Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính của cấp tỉnh

Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới.

Chi thường xuyên lương, trợ cấp

Chi trả nợ

Xem thêmHệ thống Ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

Xem thêmVai trò của Ngân sách nhà nước là gì?

5/5 - (1 bình chọn)

 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại một bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công khai.