Đề thi Lịch sử nhà nước pháp luật Việt Nam [CÓ ĐÁP ÁN]

0

# Đề thi Lịch sử nhà nước pháp luật Việt Nam lớp Kinh tế 2020

Câu 1. Nhận định

Những nhận định sau đây đúng hay sai? (Hãy giải thích không quá 5 dòng)

a) Pháp luật dân sự và hôn nhân gia đình nhà Lê Sơ không cho phép con cái có quyền sở hữu tài sản của mình khi cha mẹ còn sống.

b) Tổ chức chính quyền cấp đạo thời kỳ đầu Lê Sơ là đơn vị hành chính theo nguyên tắc “trung ương tập quyền” kết hợp nền hành chính quân quản.

c) Việc vua Lê Thánh Tông cho phép người dân trực tiếp bầu ra chức danh xã trưởng là biểu hiển của nguyên tắc tản quyền.

d) Pháp luật hôn nhân gia đình thời Lê sơ nghiệm cấm quan lại cưới con gái trong địa hạt mình quản lý hoặc con cái nhà làm nghề hát xướng nhằm mục đích bảo vệ trât tự giai cấp.

Câu 2. Tự luận

Lý giải tại sao vua Gia Long đưa ra hai biện pháp sau nhằm củng cố quyền lực của mình ngay sau khi thành lập vương triều nhà Nguyễn.

a) Khẳng định vai trò tuyệt đối của mình trong quân đội, an ninh quốc phòng và ngoại giao?

b) Thành lập chính quyền cấp thành

Câu 3. Lý thuyết

Thông qua pháp luật về dân sụ và hôn nhân giai đình thời Lê Sơ, anh chị hãy chứng minh tính bình đẳng trong các quan hệ tài sản và quan hệ hôn nhân gia đình.

# Đáp án tham khảo

Câu 1. Nhận định đúng sai

a) Pháp luật dân sự và hôn nhân gia đình nhà Lê sơ không cho phép con cái có quyền sở hữu tài sản của mình khi cha mẹ còn sống.

Nhận định Đúng

Theo các Điều 354, 388, 374, 377, 380, 388 – Chế định thừa kế của pháp luật nhà Lê thế kỷ thứ XV hay còn gọi là bộ Luật Hồng Đức có quy định: Khi cha mẹ còn sống, không phát sinh các quan hệ thừ kế nhằm bảo vệ và duy trì sự trường tồn của gia đình, dòng họ.

b) Tổ chức chính quyền cấp “Đạo” thời kỳ đầu nhà Lê sơ là đơn vị hành chính theo nguyên tắc “trung ương tập quyền” kết hợp với “chính quyền quân quản”

Nhận định Sai.

Tổ chức bộ máy thời kỳ đầu nhà Lê sơ mang tính chất quân sự, chính quyền quân quản. Đối với việc tổ chức chính quyền cấp “Đạo” phản ánh sự thỏa hiệp giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương trong giai đoạn đầu của nền độc lập.

c) Việc vua Lê Thánh Tông cho phép người dân trực tiếp bầu ra chức danh xã trưởng là biểu hiện của nguyên tắc “tản quyền”.

Nhận định Đúng

Vì theo nội dung của nguyên tắc tản quyền : không tập trung quyền hạn vào một cơ quan, chuyển quyền hạn của cấp trên cho cấp dưới hoặc chuyển từ trung ương xuống địa phương do đó việc cho phép người dân trực tiếp bầu ra chức danh xã trưởng là biểu hiện của nguyên tắc “tản quyền”.

d/ Pháp luật hôn nhân gia đình nhà Lê sơ nghiêm cấm quan lại cưới con gái trong địa hạt mính quản lý hoặc con cái nhà làm nghề hát xướng nhằm mục đích bảo vệ trật tự giai cấp

Nhận định Sai

Vua Lê Thánh Tông trong ý thức và hành động đều lấy dân làm quý (gốc). Ông chăm lo chu đáo đến sự ấm no của dân nên quy định cấm quan lại cưới con gái trong địa hạt mình quản lý hoặc con cái nhà làm nghề hát xướng nhằm mục đích bảo vệ con gái nhà lương dân chứ không nhằm mục đích bảo vệ trật tự giai cấp, bảo vệ con gái thường dân tránh sự tùy tiện của quan lại trong việc ép, gả, gán nợ.

Câu 2. Tự luận

Anh (chị) hãy giải thích tại sao vua Gia Long đưa ra hai biện pháp sau nhằm cũng cố quyền lực của mình ngay sau khi thành lập vương triều nhà Nguyễn :

a/ Khẳng định vai trò tuyệt đối của mình trong quân đội, an ninh quốc phòng và ngoại giao?

b/ Thành lập chính quyền cấp “Thành”

Giai đoạn đầu mới thành lập, nhà Nguyễn phải đứng trước nhiều khó khăn và thử thách mới do hoàn cảnh lịch sử mang lại. Chính quyền nhà Nguyễn mà đứng đầu là Vua Gia Long phải đối phó với thù trong giặc ngoài – một tình hình chính trị hết sức phức tạp. Ở phía Bắc nhà Nguyễn chưa thật sự thu phục được lòng dân, còn xuất hiện nhiều thế lực chống đối nhà Nguyễn từ sĩ phu cho đến dân chúng chưa sẵn sàng hướng về triều Nguyễn. Ở phía Nam là vùng đất mới, nơi tụ cư của nhiều sắc tộc, đất Gia Định lại trải qua nhiều biến động lịch sử nên chưa thật sự ổn định. Về đối ngoại nhà Nguyễn còn đứng trước nguy cơ xâm lược của nhà Thanh, người Xiêm và một số nước Châu Âu như Pháp, Tây Ban Nha, . . .

Sau khi thống nhất đất nước nhà Nguyễn không đủ khà năng và uy tín để trực tiếp quản lý cả hai vùng Nam Bắc vì vậy nhà Nguyễn chọn Phú Xuân, đầu não cai trị của Chúa Nguyễn để định đô xuất phát từ những lý do chính trị xã hội như trên. Nhằm đảm bảo độc lập chủ quyền, sự tồn tại của chính thể quân chủ kiểu mới, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, ở chính quyền địa phương chúa Nguyễn đã thiết lập tổ chức hành chính trung gian là cấp thành với quy chế quản lý đặc biệt. Chúa Nguyễn thiết lập cấp thành ở hai miển Nam, Bắc và quản lý cấp thành theo nguyên tắc “trung ương tản quyền”. Đứng đầu mỗi cấp thành là quan Tổng trấn, mỗi trấn có ba Tào trực thuộc giúp việc.

Quan Tổng trấn thường là các đại công thần, nhà Vua bổ nhiệm các cựu thần nhà Lê, các quan làm trong Lục bộ đứng đầu mỗi Tào. Đối với vùng ngoại trấn hoặc dân tộc ít người duy trì dùng biện pháp thổ quan để cai trị. Cấp thành là tổ chức hành chính trung gian giữa triều đình với chính quyền địa phương, là điểm tựa của chính quyền trung ương và triều đình nhà Nguyễn lãnh đạo các thành theo nguyên tắc “trung ương tản quyền “thông qua các Tổng Trấn, các Tào và các cơ quan giúp việc bên trong. Vai trò chủ yếu của cấp thành là kịp thời giải quyết các tranh chấp, binh biến. Nhìn chung vua Gia Long thành lập chính quyền cấp “Thành” nhằm cũng cố quyền lực của mình ngay sau khi thành lập vương triều nhà Nguyễn đã khẳng định được vai trò tuyệt đối của mình trong quân đội, an ninh quốc phòng và ngoại giao. Nhà nước triều Nguyễn tồn tại với tư cách một quốc gia độc lập, có chủ quyền.

Hình minh họa. de-thi-lich-su-nha-nuoc-phap-luat-viet-nam-co-dap-an

Câu 3. Lý thuyết

Thông qua pháp luật về dân sự và hôn nhân – gia đình thời Lê sơ, anh (chị) hãy chứng minh tính bình đẳng trong các quan hệ tài sản và quan hệ hôn nhân gia đình.

Pháp luật về dân sự và hôn nhân – gia đình thời Lê sơ mà cụ thể là hai chương “ Hộ hôn” và “Điền sản “ trong bộ “Quốc triều hình luật” hay còn gọi là bộ Luật Hồng Đức đã phần nào thể hiện tính bình đẳng trong các quan hệ tài sản và quan hệ hôn nhân gia đình.

Trong quan hệ hôn nhân và gia đình người vợ có nghĩa vụ ngang hàng với người chồng như nghĩa vụ đồng cư có trách nhiệm lẫn nhau, người chồng không được ngược đãi vợ (Điều 482 BLHĐ). Điều 2, 7-BLHĐ quy định việc để tang cho nhau, cấp dưỡng nuôi dạy con cái, phụng dưỡng cha mẹ; tang chế khi cha mẹ mất. Lần đầu tiên trong lịch sử Bộ Luật Hồng Đức có quy định một quyền đặc biệt đối với phụ nữ đó là quyền được ly hôn chồng, theo đó người vợ có quyền ly hôn chồng trong trường hợp chồng vi phạm nghĩa vụ đồng cư trong thời gian năm tháng liên tục, nếu đã có con là một năm (Điều 308 BLHĐ) hoặc chồng có hành vi vô lễ với bố mẹ vợ (Điều 333 BLHĐ); nếu vợ đem đơn đến công đường thì bộ luật cho phép cưỡng bức ly hôn. Nghĩa là, người chồng không làm tròn nghĩa vụ với vợ thì vợ cũng không buộc phải làm tròn bổn phận của mình.

Quy định này không có trong bất kỳ bộ luật nào trước hay sau triều Lê. Ngay cả khi Luật bắt buộc chồng phải bỏ vợ ngoài ý muốn chủ quan, Điều 310 quy định:

Vợ, nàng dâu đã phạm vào điều thất xuất nhưng người vợ đang ở trong ba trường hợp tam bất khứ thì người chồng không được ly hôn. Điều 167 quy định rỏ hình thức thuận tình ly hôn : khi ly hôn giấy ly hôn được làm dưới hình thức hợp đồng, người vợ và người chồng giữ mỗi bên một bản làm bằng; người vợ được chia nửa tài sản chung của vợ chồng và nhận lại phần tài sản riêng nếu ly hôn không do lỗi vợ ;con cái thường thuộc về chồng nhưng nếu muốn giữ con, người vợ có quyền đòi chia một nửa số con.

Sau khi ly hôn quan hệ nhân thân giữa vợ chồng hoàn toàn chấm dứt hai bên đều có quyền kết hôn với người khác mà không bị pháp luật ngăn cấm. Điều 308BLHĐ nếu người chồng ngăn cản người khác lấy vợ đã ly hôn thì bị tội biếm. Trong quan hệ tài sản, Điều 388 BLHĐ quy định đối với tài sản cha mẹ để lại, pháp luật nhà Lê không phân biệt con trai con gái, nếu cha mẹ mất hết thì lấy 1/20 số ruộng đất làm hương hỏa, giao cho người con trưởng giữ, còn lại chia đều cho các con, nếu người giữ hương hỏa có con trai trưởng thì dung con trai trưởng, không có con trai trưởng thì dung con gái trưởng (Điều 391 BLHĐ). Điều 374, 375, 376 BLHD quy định rõ việc phân chia và thừa kế tài sản, thừa nhận việc vợ chồng có sở hữu tài sản chung và tài sản riêng được phân chia cụ thể khi ly hôn, mỗi người điều được nhận như nhau.

Tóm lại thông qua bộ Luật Hồng Đức tính bình đẳng trong các quan hệ tài sản và quan hệ hôn nhân gia đình được thể hiện rõ nét trong các điều quy định về hôn nhân và tài sản. Đây là những quy định hết sức tiến bộ bảo vệ người phụ nữ trước thái độ trong nam khinh nữ trong xã hộ phong kiến, vai trò của người phụ nữ đã được đề cao hơn rất nhiều so với các bộ luật đương thời trong khu vực.

5/5 - (8 bình chọn)

 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại bình luận