Đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế

0

Chúng ta đang sống trong một thế giới mà hội nhập quốc tế đã và đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ và trở thành một xu thế không thể đảo ngược ở hầu hết các quốc gia, thế giới mà sự tồn tại của quốc gia này không thể tách rời khỏi các quốc gia khác.

Hợp tác quốc tế về mọi mặt giữa các quốc gia hiện thực tất yếu khách quan trong thời đại ngày nay động lực quan trọng thúc đẩy sự phồn vinh của mỗi đất nước. Trong quá trình hợp tác quốc tế ấy, xuất hiện các mối quan hệ đa dạng về nhân thân tài sản phát sinh từ các lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hôn nhân gia đình v.v. giữa công dân, pháp nhân của các quốc gia với nhau. Các quan hệ này xuất hiện những lĩnh vực khác nhau nhưng luôn mang hai đặc điểm quan trọng đó : tính chất dân sự yếu tnước ngoài(hay yếu tố quốc tế). Bên cạnh các quan hệ nội dung tính chất dân sựnhư: quan hệ dân sự, thương mại, lao động, hôn nhân gia đình v.v. trong quá trình giao lưu dân sự, thương mại quốc tế còn xuất hiện các quan hệ tố tụng dân sự quốc tế như: xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của toà án quốc gia, ủy thác pháp quốc tế, công nhận cho thi hành phán quyết của toà án nước ngoài v... Các quan hệ tố tụng này phát sinh khi quan thẩm quyền của quốc gia được yêu cầu giải quyết một vụ việc tính chất dân sự yếu tố nước ngoài.

pháp quốc tế một ngành luật đối tượng điều chỉnh của bao gồm các quan hệ nội dung tính chất dân sự yếu tố nước ngoài các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực tố tụng dân sự yếu tố nước ngoài. Sự tồn tại của yếu tố nước ngoài trong các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp quốc tế minh chứng ràng nhất cho sự khác biệt giữa pháp quốc tế luật dân sự với cách hai ngành luật khác nhau trong hthống pháp luật quốc gia. Sự khác biệt giữa đối tượng điều chỉnh của hai ngành luật này còn thể hiện chỗ, đối tượng điều chỉnh của pháp quốc tế rộng hơn, bao gồm các quan hệ nội dung tính chất dân sự các quan hệ tố tụng dân sự yếu tố nước ngoài, trong khi đó, đối tượng điều chỉnh của luật dân sự chỉ các quan hệ dân sự nội địa. pháp quốc tế công pháp quốc tế cũng sự khác nhau bản về đối tượng điều chỉnh. Đối tượng điều chỉnh của pháp quốc tế các quan hệ tính chất dân sự tố tụng dân sự yếu tố nước ngoài còn đối tượng điều chỉnh của công pháp quốc tế, về bản, lại các quan hệ chính trị giữa các chủ thể của luật quốc tế chủ yếu giữa các quốc gia với nhau.

Đến đây, câu hỏi cần được trả lời tiếp theo , yếu tố nước ngoài trong các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp quốc tế được thể hiện như thế nào?

Học thực tiễn về pháp quốc tế chưa sự thống nhất về cách hiểu đối với yếu tố nước ngoài trong quan hệ pháp quốc tế, song thường dựa vào ít nhất một trong ba dấu hiệu chính sau đây để kết luận một quan hệ nội dung tính chất dân sự hoặc quan hệ tố tụng dân sự yếu tố nước ngoài hay không, cụ thể :

Thứ nhất, dấu hiệu chủ thể tham gia quan hệ.

Đây là trường hợp ít nhất một bên chủ thể tham gia quan hệ người nước ngoài. “Người nước ngoàiđây được hiểu theo nghĩa rộng, thể nhân người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài, tổ chức nước ngoài thậm chí cả quốc gia nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế ...

dụ 1: Nam công dân Việt Nam 25 tuổi kết hôn với nữ công dân Nga 23 tuổi. Hoặc, nam công dân Hoa Kỳ nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.

dụ 2: Trong quá trình giải quyết một vụ việc về tranh chấp quyền sở hữu đối với tài sản giữa nguyên đơn công dân Việt Nam đang trú tại Đà Nẵng bị đơn công dân Anh đang trú tại Bungari, toà án Việt Nam (toà án đang giải quyết vụ việc) đã yêu cầu Toà án Bungari xác minh một số vấn đề về nhân thân và tài sản của công dân Anh trong thời gian người này trú tại Bungari thông qua thủ tục ủy thác pháp quốc tế.

Dấu hiệu chủ thể còn thể được thể hiện khía cạnh khác, đó trong một số quan hệ nhất định, các bên tham gia quan hệ mặc cùng quốc tịch nhưng các bên trụ sở thương mại hay nơi trú các nước khác nhau. Trong trường hợp này, quan hệ phát sinh vẫn quan hệ yếu tố nước ngoài.

dụ: Trong một quan hệ hợp đồng mua bán vải, bên bán thương nhân trụ sở thương mại tại Việt Nam, còn bên mua thương nhân trụ sở thương mại tại Pháp. Theo Điều 1 Công ước Vienna 1980 của Liên hợp quốc về mua bán hàng hoá quốc tế thì quan hệ hợp đồng trên chính quan hệ hợp đồng có yếu tố quốc tế (yếu tnước ngoài). dkhác, việc đăng kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau trong đó một bên định nước ngoài được thực hiện tại ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi thường trú của công dân Việt Nam. Theo pháp luật Việt Nam thì quan hệ này được xem quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.

Thứ hai, dấu hiệu đối tượng của quan hệ.

Theo dấu hiệu này, một quan hệ tính chất dân sự yếu tố nước ngoài quan hệ mà đối tượng của quan hệ này tồn tại nước ngoài. Đối tượng của quan hệ thể tài sản hoặc lợi ích khác.

Ví dụ 1: Bà M là công dân Việt Nam, khi chết không để lại di chúc. Tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của Bà M vào thời điểm chết là một biệt thự tại Hoa Kỳ. Khi Bà M chết, những người thừa kế đối với tài sản của Bà là các con đẻ và con nuôi của Bà đều là công dân Việt Nam và đang cư trú tại Việt Nam. Trong trường hợp này, quan hệ thừa kế tài sản phát sinh giữa những người cùng quốc tịch nhưng đối tượng của quan hệ tài sản tồn tại nước ngoài nên quan hệ thừa kế này quan hệ thừa kế yếu tố nước ngoài.

dụ 2: Toà án Việt Nam thụ giải quyết một vụ việc tranh chấp về quyền sở hữu tài sản giữa nguyên đơn bị đơn đều công dân Việt Nam đều đang trú tại Việt Nam, nhưng tài sản liên quan tới tranh chấp ngôi biệt thự tại Anh.

Hình minh họa. Đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế

Thứ ba, dấu hiệu về căn cứ làm phát sinh, thay đổi, thực hiện hay chấm dứt quan hệ.

Theo dấu hiệu này, quan hệ yếu tố nước ngoài quan hệ căn cứ (sở) làm phát sinh, thay đổi, thực hiện hay chấm dứt quan hệ xảy ra nước ngoài.

dụ: Hai công dân Việt Nam kết hôn với nhau tại Bờ Biển Ngà trước quan nhà nước thẩm quyền của Bờ Biển Ngà, hoặc hai doanh nghiệp của Việt Nam kết hợp đồng mua bán hàng hoá tại Lào những hợp đồng được thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam.

Trong pháp quốc tế của Việt Nam, yếu tố nước ngoàiđược quy định tại Bộ luật dân sự 2015, Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Luật hôn nhân gia đình 2014 V.v. song cụ thể đầy đủ nhất các quy định tại Bộ luật dân sự 2015 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Nhìn chung, những quy định về yếu tố nước ngoài trong pháp quốc tế Việt Nam khá hiện đại phù hợp với pháp quốc tế của nhiều nước trên thế giới. Khoản 2 Điều 663 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

Quan hệ n syếu tố nước ngoài quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hp sau đây:

a) ít nhất một trong các bên tham gia nhân, pháp nhân nước ngoài;

b) Các bên tham gia đều công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;

c) Các bên tham gia đều công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối ợng của quan hệ dân sự đó ớc ngoài.

Tương tự, khoản 2 Điều 464 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định:

Vụ vic n sự yếu tố nước ngoài là vụ việc n sthuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có ít nhất một trong các bên tham gia nhân, quan, tchức nước ngoài;

b) Các bên tham gia đều công dân, quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc c lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;

c) Các bên tham gia đều công dân, quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sđó nước ngoài.

Như vậy, đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế là các quan hệ dân sự, kinh doanh, thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động, tố tụng dân sự v.v. có yếu tố nước ngoài. Nói theo cách khác, đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế là các quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài.

5/5 - (6 bình chọn)


 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại bình luận