Khái niệm quy phạm xung đột trong tư pháp quốc tế

0

Trong tư pháp quốc tế, khi xuất hiện xung đột pháp luật tức là xuất hiện hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các nước khác nhau cùng có thể tham gia điều chỉnh một quan hệ và không phải lúc nào các quan hệ này cũng được điều chỉnh bằng các quy phạm thực chất, nên các cơ quan có thẩm quyền phải “chọn” trong số hai hay nhiều hệ thống pháp luật liên quan lấy một hệ thống pháp luật để điều chỉnh quan hệ đang xem xét. Sự lựa chọn này không thể dựa trên cảm tính hay ngẫu nhiên mà phải trên cơ sở pháp luật quy định. Quy phạm xung đột chính là căn cứ pháp lí của sự lựa chọn này.

Quy phạm xung đột trước hết một quy phạm pháp luật nhưng một quy phạm pháp luật đặc biệt bởi quy phạm xung đột không trực tiếp quy định quyền nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ chỉ nhằm xác định hệ thống luật áp dụng thôi.

thể định nghĩa, quy phm xung đột quy phm ấn định luật pháp nước nào cần phải áp dụng để điều chỉnh quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng yếu tố nước ngoài trong một tình huống cụ thể.

Hình minh họa. Khái niệm quy phạm xung đột

Quy phạm xung đột thể do các quốc gia tự xây dựng nên trong hệ thống pháp luật của mình được gọi quy phạm xung đột thông thường. dụ, khoản 2 Điều 680 Bộ luật dân sự 2015 quy định: Việc thực hiện quyền thừa kế đối với bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi bất động sản đó. Trong quy phạm này, pháp luật được lựa chọn để điều chỉnh quan hệ về việc thực hiện quyền thừa kế đối với bất động sản pháp luật của nước nơi bất động sản đó. Quy phạm này không trả lời được câu hỏi chủ thể nào thì được thừa kế bất động sản, nhưng câu hỏi đó chỉ thể được trả lời khi căn cứ vào luật nơi bất động sản hệ thống pháp luật đã được quy phạm xung đột chỉ ra.

Quy phạm xung đột cũng thể được các quốc gia thoả thuận xây dựng nên trong các điều ước quốc tế lúc này được gọi với tên gọi quy phạm xung đột thống nhất, trong đó quy phạm xung độttên của loại quy phạm chỉ xác định luật áp dụng, còn thống nhất để chỉ vị trí tồn tại của quy phạm trong các điều ước quốc tế. dụ, Điều 17 HĐTTTP giữa Việt Nam Lào quy định: ng lực pháp luật năng lực hành vi dân sự sẽ tuân theo pháp luật của Nước kết nhân đã công dân. Cụ thể, nếu một công dân Lào thực hiện một hành vi dân sự tại Việt Nam khi tranh chấp về chính năng lực hành vi đó cho rằng người này không đủ năng lực để thực hiện hành vi đã xảy ra, các bên yêu cầu toà án Việt Nam giải quyết thì toà án sẽ căn cứ vào Điều 17 Hiệp định song phương nói trên để xác định luật áp dụng. đây, mặc hành vi được thực hiện Việt Nam nhưng năng lực hành vi dân sự sẽ phải tuân theo luật của nước người đó là công dân, người đó công dân Lào do vậy luật phải áp dụng trong trường hợp này luật của Lào, nếu luật của Lào cho rằng người này đủ năng lực hành vi để thực hiện nh vi, trong khi luật Việt Nam lại cho rằng người này không đủ năng lực hành vi thì tán vẫn phán quyết theo pháp luật Lào dựa o Hiệp định nêu trên.

Quy phạm xung đột như hai dụ trên đều chỉ ra luật áp dụng luật nước nơi bất động sản hoặc luật nước nhân công dân, tức các quy phạm này luôn mang tính dẫn chiếu. Song cần lưu ý sự dẫn chiếu hay xác định luật đây dẫn chiếu tới các hthống pháp luật quốc gia chứ không phải dẫn chiếu đến các văn bản luật, hay các văn bản dưới luật hoặc dẫn chiếu tới các quy phạm luật cụ thể, riêng lẻ của hệ thống pháp luật đó. như trên đã trình bày, xung đột pháp luật xung đột giữa các hệ thống pháp luật chứ không phải xung đột giữa các quy phạm luật vì vậy nên dùng thuật ngữ xung đột pháp luậtchứ không nên dùng thuật ngữ xung đột luậtđể đảm bảo tính chính xác.Nếu tách riêng các quy phạm (thực chất) của hệ thống pháp luật này ghép vào hệ thống pháp luật khác để giải thích thì không phải áp dụng các quy phạm sốngđang áp dụng các quy phạm chết, đã mất hết nội dung bản chất đích thực của .

Về vấn đề này, Bộ luật n s2015 đã quy định trong phạm vi pháp luật được dẫn chiếu đến, cụ thể khoản 1 Điều 668: Pháp luật được dẫn chiếu đến bao gồm quy định về xác định pháp luật áp dụng và quy định về quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dân sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều y. Căn cứ vào quy định này thể hiểu, pháp luật được dẫn chiếu đến bao gồm cả phần luật xung đột phần luật thực định của hệ thống pháp luật được dẫn chiếu hay toàn bộ pháp luật của nước liên quan.

một điểm cần chú ý, khi quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật một nước đó lại nhà nước liên bang, nghĩa trong lãnh thổ quốc gia đó nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng tồn tại. Vậy, quy phạm xung đột lúc này dẫn chiếu dẫn chiếu đến luật nào, luật của từng bang hay luật của liên bang. Vấn đề này đã được quy định tại Điều 669 Bộ luật dân sự 2015, theo đó: Trường hợp pháp luật của nước nhiều hệ thống pháp luật được dẫn chiếu đến thì pháp luật áp dụng được xác định theo nguyên tắc do pháp luật nước đó quy định. Như vậy, việc luật của bang hay luật của liên bang sẽ được áp dụng điều chỉnh quan hệ pháp quốc tế, lúc này do pháp luật của nước đó quy định.

Xem thêmPhương pháp giải quyết xung đột pháp luật

Xem thêmNguyên nhân của hiện tượng xung đột pháp luật

5/5 - (5 bình chọn)


 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại bình luận