Quyền chiếm hữu là gì? Phân loại quyền chiếm hữu

0

1. Quyền chiếm hữu là gì?

Theo quy định tại Điều 186 Bộ luật Dân sự 2015 thì quyền chiếm hữu quyền năng của chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình, nắm giữ, chi phối i sản thuộc sở hữu những không được trái pháp luật, đo đức xã hội.

Trong thực tế, chủ sở hữu thường tự mình bằng các hành vi của bản thân để thực hiện quyền chiếm hữu tài sản, hay còn gọi là quyền chiếm hữu thực tế. Trong một số trường hợp, chủ sở hữu chuyển quyền này cho người khác thông qua một hợp đồng dân sự thì chủ sở hữu vẫn thực hiện quyền kiểm soát đối với tài sản, người thực tế năm giữ vật thay mặt chủ sở hữu chiếm hữu tài sản (chủ sở hữu gián tiếp), hay nói cách khác là người thực tế chiếm hữu vật thông qua giao dịch quyền chiếm hữu theo nội dung giao dịch đã xác lập (khoản 1 Điều 188).

Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu chỉ chấm dứt khi chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình hoặc chuyển giao quyền sở hữu cho chủ thể khác như bán, trao đổi, tặng cho v.v. hoặc theo các căn cứ được quy định từ Điều 242 đến Điều 244 Bộ luật Dân sự 2015.


2. Phân loại quyền chiếm hữu

2.1. Căn cứ vào chủ thể chiếm hữu

Trong đời sống thường ngày xảy ra trường hợp những người không phải là chủ sở hữu nhưng vẫn chiếm hữu tài sản đó. Điều 179 Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định chiếm hữu không chỉ được hiểu một quyền năng thuộc quyền sở hữu mà là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chthể có quyền đối với tài sản. Do đó, căn cứ vào chủ thể chiếm hữu có thể phân thành hai loại là:

– Chiếm hữu của chủ sở hữu;

– Chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu.

Việc chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu không thể căn cứ xác lập quyền sở hữu, trừ một số trường hợp được pháp luật quy định như đối với tài sản bị chôn giấu, bị vùi lấp, bị chìm đắm, tài sản bị người khác đánh rơi, bỏ quên...

Hình minh họa. Quyền chiếm hữu là gì? Phân loại quyền chiếm hữu

2.2. Căn cứ vào nhận thức của người chiếm hữu

Căn cứ vào nhận thức của người chiếm hữu đối với việc chiếm hữu tài sản thì chiếm hữu có thể phân thành chiếm hữu ngay tình chiếm hữu không ngay tình.

2.2.1. Chiếm hữu ngay tình

Điều 180 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Chiếm hữu ngay tình việc chiếm hữu ngưi chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu. Căn cứ này có thể xuất phát từ thực tế chủ thể chiếm hữu đồng thời cũng chính là chủ sở hữu của tài sản; hoặc hiếm hữu được xác lập trên sở được chủ sở hữu uỷ quyền quản tài sản (Điều 187 BLDS); được chủ sở hữu chuyển giao tài sản thông qua giao dịch dân sự (Điều 188 BLDS). Ngoài ra, trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật, chiếm hữu của chủ thể không phải chủ sở hữu cũng được xác định ngay tình.

dụ: Trường hợp chiếm hữu đối với tài sản bị người khác đánh rơi, bỏ quên, gia súc bị thất lạc, gia cầm bị thất lạc... chủ thể nhặt được tài sản, bắt được gia súc, gia cầm… đã thực hiện đầy đủ các thủ tục thông báo m kiếm theo quy định của pháp luật.

2.2.2. Chiếm hữu không ngay tình

Điều 181 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Chiếm hữu không ngay tình là việc chiếm hu mà người chiếm hữu biết hoc phải biết rng mình không có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu. Như vậy, trước hết chiếm hữu không ngay tình là việc chiếm hữu không dựa trên bất kì căn cứ hợp pháp nào được pháp luật ghi nhận. Nhận thức của chủ thể chiếm hữu tài sản trong trường hợp này là biết rõ về việc chiếm hữu không căn cứ hợp pháp của mình nhưng vẫn thực hiện hành vi chiếm hữu; hoặc tuy về chủ quan họ không biết về việc này nhưng theo yêu cầu của pháp luật, bất chủ thể o trong trường hợp hành vi chiếm hữu tài sản tương ứng đều phải biết.

d: một người biết i sản có được do trộm cắp nhưng vẫn mua từ người bán do muốn mua với giá r; một người mua xe máy đã qua sử dụng cần phải thực hiện c thtục chuyển quyền sở hữu nhưng đã không thực hiện nên đã mua phải xe máy từ người đã chiếm đoạt trái phép tài sản thì tuy nhận thức của hhoàn toàn không biết nhưng việc chiếm hữu của họ vẫn được xác định không ngay tình.

2.3. Căn cứ vào tình trình trạng chiếm hữu

Ngoài ra, việc chiếm hữu còn được xác định theo tình trạng chiếm hữu liên tục (Điều 182) và chiếm hữu công khai (Điều 183). Theo đó, chiếm hữu liên tục được hiểu là “việc chiếm hữu được thực hiện trong một khoảng thời gian mà không tranh chấp về quyền đối với tài sản đó hoặc tranh chấp nhưng chưa được giải quyết bằng một bản án, quyết định hiệu lực pháp luật của tòa án hoặc quan nhà nước thẩm quyền kc, kể cả khi tài sản được giao cho nời khác chiếm hữu. Chiếm hữu công khai việc chiếm hữu được thực hiện một cách minh bạch, không giấu giếm, tài sản đang chiếm hữu được sử dng theo tính năng, công dụng và được người chiếm hữu bảo quản, giữ gìn như tài sản của chính mình. Những tình trạng chiếm hu này là căn cứ để suy đoán về tình trạng quyền của người chiếm hữu được quy định tại Điều 184 BLDS, cũng như là căn cứ để xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu cho chủ thể chiếm hữu tài sản.

Điều 184 quy định về suy đoán tình trạng và quyền của người chiếm hữu như sau: 1. Nời chiếm hữu được suy đoán là ngay tình; người nào cho rằng người chiếm hữu không ngay tình thì phải chứng minh. 2. Trường hợp tranh chấp về quyền đối với tài sản thì người chiếm hữu được suy đoán là người có quyền đó. Người có tranh chấp với người chiếm hữu phải chứng minh về việc người chiếm hữu không có quyền.

Trong những điều kiện nhất định, nếu việc chiếm hữu là liên tục (Điều 190), công khai (Điều 191) và trong khoảng thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình còn được hưởng quyền xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu. Họ có thể trở thành chủ sở hữu các tài sản đó kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu.

5/5 - (20 bình chọn)

 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại bình luận