Tên thương mại là gì? Pháp luật về bảo hộ tên thương mại  

0

Theo cách hiểu trong thực tế, tên thương mại có thể hiểu là tên gọi (đó có thể là tên chủ công ty, tên viết tắt của công ty…) nhằm phân biệt một doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó với hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp khác.

Từ góc độ kinh tế, tên thương mại còn có những vai trò sau:

Thứ nhất, tên thương mại được xem là một trong những thành tố góp phần vào sự phát triển và thành đạt của doanh nghiệp. Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh – đây là yếu tố đầu tiên và quan trọng trong chiến lược xâm nhập thị trường, và trong nhiều trường hợp quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trên thị trường mới.

Thứ hai, tên thương mại góp phần tạo ấn tượng, uy tín với các đối tác, khách hàng của doanh nghiệp. Sự tin cậy giúp khách hàng tìm ra chất lượng ổn định của sản phẩm, dịch vụ mang tên thương mại quen thuộc. Một tên thương mại được biết đến rộng rãi giúp cho khách hàng tiết kiệm thời gian, công sức trong việc lựa chọn sản phẩm, dịch vụ theo mục đích của mình; đảm bảo cho khách hàng có thể mua sản phẩm hoặc thuê dịch vụ tốt nhất trong cùng một loại, một lĩnh vực.

Hình minh họa. Tên thương mại là gì? Pháp luật về bảo hộ tên thương mại

Dưới góc độ pháp lý, hiện nay tên thương mại được điều chỉnh đồng thời bởi pháp luật thương mại và pháp luật SHTT. Khoản 6 Điều 5 Luật Thương mại 2005 quy định: “Thương nhân gồm cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên”  Điều 24 quy định:Thương nhân phải có tên thương mại”. Điều 23 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định tên doanh nghiệp một trong những nội dung bắt buộc trong đăng kinh doanh, đồng thời Điều 37, 38, 39 quy định về “Tên doanh nghiệp” cũng như những điều cấm trong đặt tên doanh nghiệp. Như vậy, thể thấy tên doanh nghiệp một thành tố quan trọng cấu thành doanh nghiệp.

Có thể nhận thấy, “tên doanh nghiệp” là tên gọi dùng cho chủ thể kinh doanh tồn tại dưới hình thức “doanh nghiệp” và phải được đăng ký với cơ quan đăng ký doanh nghiệp. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, tên doanh nghiệp bằng tiếng Việt phải bao gồm hai thành tố theo thứ tự thể hiện rõ loại hình doanh nghiệp và có tên riêng của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, doanh nghiệp có thể có tên doanh nghiệp bằng tiếng nước ngoài (là tên được dịch từ tiếng Việt sang) hoặc/và tên viết tắt từ tiếng Việt hoặc từ tên doanh nghiệp bằng tiếng nước ngoài. Còn theo quy định của Luật Thương mại, “tên thương mại” gắn liền với “thương nhân”, bao gồm cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên. Như vậy, phạm vi “thương nhân” rộng hơn “doanh nghiệp” vì nó bao hàm cả những chủ thể tiến hành hoạt động thương mại độc lập nhưng không phải là một doanh nghiệp. Nếu như tên doanh nghiệp được quy định trong Luật Doanh nghiệp, thì tên thương mại là đối tượng SHCN được điều chỉnh bởi pháp được pháp luật bảo vệ theo pháp luật SHTT. Trên khía cạnh pháp luật, việc sử dụng hợp pháp tên thương mại sẽ giúp cho doanh nghiệp bảo vệ tên tuổi của mình trước những đối thủ cạnh tranh không lành mạnh khác.

Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đã đưa ra khái niệm về tên thương mại.

Theo quy định tại Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 thì “tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh”

Tên thương mại là tên dùng trong giao dịch, là tên dùng “xưng danh” của các chủ thể sản xuất, kinh doanh. Nó không phải là dấu hiệu phân biệt sản phẩm, dịch vụ như nhãn hiệu mà là dấu hiệu phân biệt chủ thể kinh doanh. Chức năng chính của tên thương mại là để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thương mại đó với các chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh. Điều này cũng có thể được hiểu là nếu tên thương mại của hai chủ thể kinh doanh trùng nhau hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn nhưng hai chủ thể kinh doanh đó lại hoạt động kinh doanh trong hai lĩnh vực khác nhau, hoặc thuộc hai khu vực kinh doanh khác nhau thì vẫn được chấp nhận bảo hộ.

Tên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp hoặc chủ thể khác không liên quan đến hoạt động kinh doanh thì không có tên thương mại. Ví dụ: Hội Nông dân Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam,… là những tổ chức đại diện cho lợi ích của các cộng đồng xã hội khác nhau tham gia vào hệ thống chính trị theo tôn chỉ, mục đích, tính chất của từng tổ chức; không có mục đích kinh doanh, không phải thương nhân hay doanh nghiệp (các đối tượng này không phải chủ thể kinh doanh), vì vậy tên của các tổ chức này không thuộc đối tượng bảo vệ dưới danh nghĩa tên thương mại.

5/5 - (7 bình chọn)

 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại một bình luận

Địa chỉ email của bạn sẽ không được công khai.