[Tiểu Luận] Kỹ năng của Luật sư trong vụ án hình sự

0

MỞ ĐẦU

Trong hoạt động tố tụng hình sự, vấn đề đánh giá và sử dụng chứng cứ không chỉ có vai trò rất quan trọng không chỉ đối với những người tiến hành tố tụng mà còn đối với Luật sư-người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và các đương sự khác. Bởi vì đánh giá và sử dụng chứng cứ là yếu tố bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan tư pháp được chính xác trong việc điều tra, truy tố xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật góp phần quan trọng trong đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ được lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của công dân.

Đối với Luật sư, khi tham gia tố tụng dù với vai trò là người bào chữa cho của bị can, bị cáo hay người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, lợi ích hợp pháp của đương sự… thì Luật sư cùng với thân chủ của mình luôn trở thành một bên trong tố tụng. Do đó khi đã trở thành một bên trong tố tụng thì Luật sư phải sử dụng tổng hợp những kinh nghiệm nghề nghiệp và kiến thức của mình trong đó có kiến thức về chứng cứ nhằm bác lại quan điểm đối lập, bảo vệ quan điểm của mình. Chính vì vậy, có thể nói, sự hiểu biết về lý luận chứng cứ và khả năng sử dụng chứng cứ trong tố tụng là những điều kiện quan trọng bảo đảm sự thành công của Luật sư trong tranh tụng.

Xuất phát từ vấn đề trên, việc tìm hiểu vấn đề “Kỹ năng của Luật sư trong hoạt động đánh giá và sử dụng chứng cứ ” có một ý nghĩa lý luận và thực tế rất lớn, nhằm nâng cao sự nhận thức cũng như kỹ năng nghề nghiệp của Luật sư trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự.

Đó cũng chính là lý do mà người viết chọn đề tài trên cho bài tiểu luận của mình.

Cơ cấu tiểu luận gồm hai chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về chứng cứ trong vụ án hình sự

Chương 2: Một số vấn đề trong hoạt động đánh giá và sử dụng chứng cứ của Luật sư.

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHỨNG CỨ VÀ ĐÁNH GIÁ, SỬ DỤNG CHỨNG CỨ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1. Một số vấn đề về chứng cứ

1.1.1. Khái niệm chứng cứ theo quy định của Bộ luật TTHS

Trong một vụ án hình sự mỗi sự kiện phạm tội xảy ra trong quá khứ bao giờ cũng để lại những dấu vết vật chất, tinh thần trong thế giới khách quan, mà mỗi dấu vết phản ánh những mặt riêng lẽ của nó. Sự kiện phạm tội, người phạm tội và những tình tiết có liên quan là đối tương để các cơ quan tiến hành tố tụng phải nhận thức làm sáng tỏ thông qua những dấu vết đó. Sự nhận thức những dấu vết của tội phạm để lại trong thế giới khách quan không phải là hành động thụ động, tức thời mà là quá trình biện chứng. Nhận thức của những người tiến hành tố tụng về những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự là quá trình đi từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn.

Theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự (BLTTHS) nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan và những người tiến hành tố tụng, điều này có nghĩa rằng những người nói trên có nghĩa vụ phải đi thu thập chứng cứ. Điều 19 BLTTHS quy định kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại,… đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đưa ra yêu cầu tranh luận trước toà án. Vậy chứng cứ là gì và những đối tượng nào được xem là chứng cứ mà những người có quyền hoặc có nghĩa vụ thu thập để chứng minh cho sự thật của vụ án.

Theo điều 64 BLTTHS, “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự thủ tục do Bộ luật TTHS quy định mà cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát, Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án”

Chứng cứ được xác định bằng:

– Vật chứng

– Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

– Kết luận giám định

– Biên bản về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và các tài liệu đồ vật khác.

Từ những quy định trên chúng ta có thể hiểu chứng cứ như sau:

Chứng cứ tồn tại trong thế giới khách quan hoặc phản ánh đúng thực tế khách quan; và nó có liên quan đến vụ án hình sự, được các cơ quan tiến hành tố tụng dùng làm căn cứ để xác định những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự hay những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án; và được thu thập theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định.

1.1.2. Các thuộc tính của chứng cứ

Từ quy định tại Điều 64 BLTTHS, thì một vật, tài liệu hay lời nói được coi là chứng cứ thì nó thải thoã mãn các thuộc tính, đó là tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp.

– Tính khách quan: Là những gì có thật và phản ánh trung thực những tình tiết của vụ án hình sự đã xảy ra.

Tính khách quan của chứng cứ chỉ tồn tại độc lập của nó trong thế giới khách quan không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của những người tiến hành tố tụng.

Tính khách quan của chứng cứ có cơ sở lý luận là nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Nguyên tắc này đòi hỏi cơ quan  Điều tra, Viện Kiểm sát, Toà án khi giải quyết vụ án hình sự phải xuất phát từ thực tế của vụ án hình sự để nhận thức chứ không lấy ý chí chủ quan để áp đặt, phải tôn trọng sự thật khách quan, tránh thái độ chủ quan nóng vội, phiến diện, định kiến không trung thực. Thuộc tính này đòi hỏi chứng cứ để xác định sự thật của vụ án hình sự, phải tồn tại trong thực tế khách quan, phân tích vụ án một cách trung thực như nó vốn có, đồng thời phải phát huy nỗi lực chủ quan của những người tiến hành tố tụng.

– Tính liên quan: Tính liên quan của chứng cứ là khả năng xác định những tình tiết thuộc đối tượng chứng minh của vụ án. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các Cơ quan tiến hành tố tụng có thể có thể thu thập được nhiều tài liệu khác nhau nhưng chỉ có những tài liệu nào đó mới có liên quan đến vụ án. Tức là chúng có mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với vụ án. Nhưng cho dù là trực tiếp hay gián tiếp thì đó cũng phải là mối quan hệ nội tại, có tính nhân quả, tức là chứng cứ phải là kết quả của một loại hành vi hoặc hành động hoặc một quan hệ nhất định, ngược lại, hành vi, hành động hoặc quan hệ đó là nguyên nhân dẫn đến việc hình thành các chứng cứ này.

– Tính hợp pháp: Tính hợp pháp của chứng cứ là sự phù hợp của việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ với những quy định pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả những gì có thật phải được cung cấp, thu thập, nghiên cứu, bảo quản theo một trình tự do luật định. Đây là trình tự nhằm bảo đảm giá trị chứng minh của chứng cứ. Nếu như tính khách quan và tính liên quan của chứng cứ thể hiện bình diện khách quan thì tính hợp pháp của chứng cứ thể hiện bình diện pháp lý. Đây là thuộc tính pháp lý của chứng cứ, có cơ sở lý luận là nguyên tắc pháp chế XHCN trong tố tụng hình sự và là nguyên tắc hết sức quan trọng, nó có vai trò cơ bản của toàn bộ quá trình xây dung Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta.

Ba thuộc tính của chứng cứ tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp là một thể thống nhất có mối quan hệ biẹn chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Tính khách quan là tiền đề của tính hợp pháp và tính liên quan, còn tính liên quan là tiền đề của bảo đảm của tính hợp pháp và tính khách quan còn tính hợp pháp là cơ sở pháp lý của tính liên quan và tính khách quan. Chứng cứ phải thực sự thống nhất của ba thuộc tính đó, nếu thiếu một trong trong thuộc tính nói trên thì không thể công nhận là chứng cứ.

1.1.3. Nguồn chứng cứ

Pháp luật tố tụng hình sự quy định cụ thể các nguồn của chứng cứ và chỉ những nguồn được chỉ ra theo quy định của pháp luật thì mới được thừa nhận là chứng cứ. Theo khoản 2 điều 64 BLTTHS nguồn chứng cứ được xác định bằng:

– Vật chứng

– Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

– Kết luận giám định

– Biên bản về hoạt động Điều tra, Truy tố, Xét xử và các tài liệu đồ vật khác.

Từ nguồn chứng cứ trên các cơ quan tiến hành tố tụng rút ra chứng cứ để làm căn cứ cho những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự, được quy định tại điều 63 BLTTHS cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.

Ngoài những nguồn chứng cứ trên quy định tại khoản 2 điều 64 BLTTHS các cơ quan tiến hành tố tụng không được rút chứng cứ từ nguồn nào khác.

1.2. Những vấn đề về đánh giá và sử dụng chứng cứ

1.2.1. Đánh giá chứng cứ

1.2.1.1. Khái niệm, ý nghĩa của việc đánh giá chứng cứ

Khái niệm: Theo lý luận tố tụng hình sự, đánh giá chứng cứ cứ là hoạt động tư duy của những người tiến hành tố tụng, được tiến hành một cách lôgic biện chứng trên cơ sở pháp luật, ý thức pháp luật và niềm tin nội tâm, nhằm nghiên cứu đánh giá độ tin cậy của từng chứng cứ riêng biệt cũng như tổng hợp những chứng cứ trong vụ án hình sự để rút ra kết luận về vụ án.

Việc đánh giá chứng cứ phải dựa trên cơ sở của 3 thuộc tính khách quan, liên quan và hợp pháp, các chứng cứ được thu thập được phải bảo đảm để giải quyết vụ án hình sự và không bỏ lọt tội phạm đồng thời không làm oan người vô tội.

Khi đánh giá chứng cứ phải giải quyết các vấn đề sau:

Tài liệu đồ vật thu thập được có thể sử dụng với tính chất là chứng cứ trong vụ án hình sự có cụ thể hay không ? Việc sử dụng nó có trái với các quy định của pháp luật hay không ?

Tính chất ý nghĩa mối quan hệ giữa chứng cứ này với chứng cứ khác trong vụ án hình sự.

Trong tổng thể những chứng cứ đã được thu thập, chứng cứ nào có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự và tổng thể những chứng cứ đó có đáp ứng được những điều kiện cần và đủ để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự không ?

Cách sử dụng chứng cứ này trong các hoạt động tố tụng tiếp theo.

Ý nghĩa của việc đánh giá chứng cứ:

Đánh giá chứng cứ có ý nghĩa rất quan trọng, giúp chúng ta làm rõ bản chất của vụ án trên cơ sở những chứng cứ đã thu được, đó là một quá trình lôgic nhằm xác định giá trị chứng minh và sự phù hợp hay không phù hợp mối quan hệ giữa các chứng cứ với nhau, nhằm xác định:

– Việc xác định chứng cứ nào đó vào vụ án có được không ? Việc sử dụng đó có mâu thuẫn với pháp luật không ? Chứng cứ này có nằm trong tổng hợp chứng cứ vụ án không ?  Chứng cứ này cũng như toàn bộ chứng cứ có giá trị như thế nào đối với việc xác định sự thật khách quan trong vụ án, nó đã đủ cơ sở để ra quyểt định tố tụng này hay quyết định tố tụng khác hay chưa? Chứng cứ này phải được tiếp tục sử dụng như thế nào trong vụ án ?

Nếu không xác định đúng ý nghĩa và tầm quan trọng của việc đánh giá chứng cứ, không xác định được đúng mục đích của việc đánh giá chứng cứ có thể sẽ dẫn đến sai lầm trong việc ra các quyết định tố tụng.

Một trong những vấn đề cần chú trong khi xem mục đích của việc đánh giá chứng cứ, là xác định mối liên quan giữa các chứng cứ với nhau. Chứng cứ bao giờ cũng được xem xét trong mối liên hệ mật thiết và lôgic với các chứng cứ khác. Đó là điều kiện cần thiết đối với việc xác định chân lý khách quan trong vụ án hình sự, đặc biệt là đối với các chứng cứ gián tiếp càng đòi hỏi chặt chẽ hơn khi xem xét đánh giá.

1.2.1.2. Nguyên tắc đánh giá chứng cứ

Khi đánh giá chứng cứ, các chủ thể phải dựa trên những nguyên tắc sau đây:

– Đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn diện và đầy đủ

Xuất phát từ thuộc tính của chứng cứ là tính khách quan, tính liên quan nên khi đánh giá chứng cứ, một yêu cầu được đặt ra đó là phải đánh giá các chứng cứ một cách khách quan, nghĩa là phải đánh giá những gì có thật, có cơ sở khoa học vững chắc chứ không đánh giá trên cơ sở ý chí chủ quan để từ đó áp đặt, tránh thái độ chủ quan nóng vội, phiến diện, định kiến không trung thực khi đánh giá chứng cứ. Vì chứng cứ trong vụ án có thể rất phức tạp, liên quan đến nhiều tình tiết khác nhau, nên khi đánh giá chứng cứ, chủ thể phải đánh giá một cách toàn diện và đầy đủ, phải đặt chứng cứ đó trong mối tương quan với các tình tiết, sự việc, để từ đó mới có thể tìm ra được những mối liên hệ trực tiếp-hay gián tiếp của chứng cứ với vấn đề cần tìm hiểu.

– Đánh giá chứng cứ dựa trên cơ sở pháp luật.

Xuất phát từ tính hợp pháp của chứng cứ nên đòi hỏi các chủ thể khi đánh giá các tình tiết đã thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử phải dựa trên cơ sở pháp luật, đó là những quy định của pháp luật, mà ở đây chính là Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự và các văn bản pháp luật khác có liên quan.

Giả sử muốn xác định sự việc xảy ra có dấu hiệu của tội phạm hay không, hành vi đó có cấu thành tội phạm hay không, nếu có là tội gì, được quy định tại điều khoản nào của BLHS…Hoặc muốn tìm tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo chúng ta không chỉ đơn thuần đơn đưa ra những tài liệu về vấn đề đó mà còn phải dự vào các quy định về những tình tiết này được quy định tại điều 63,64 BLHS.

Cùng với pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá chứng cứ mà chủ thể buộc phải tuân theo. Vai trò đó thể hiện ở các quy định như: khái niệm chứng cứ; các phương tiện chứng minh; phương pháp thu thập chứng cứ; các quy định cụ thể về từng loại phương tiện chứng minh và nguyên tắc sử dụng các loại phương tiện đó.

Ví dụ BLTTHS quy định:

+ Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng trình bày, nếu họ không nói rõ vì sao họ biết được tình tiết đó.

+ Không được dùng lời khai nhận tội của bị can bị cá làm chứng cứ duy nhất để kết tội nếu nó không phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án…

– Đánh giá chứng cứ dựa vào ý thức pháp luật

Ý thức pháp luật là một trong những hình thái ý thức xã hội, có mối quan hệ mật thiết với pháp luật. Nó thể hiện mối quan hệ giữa con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có. Thể hiện sự đánh giá tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người, cũng như trong tổ chức và  hoạt động của cơ quan Nhà nước và các tổ chức xã hội.

Mặc dù là hai hiện tượng xã hội khác nhau nhưng giữa ý thức pháp luật và pháp luật có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Toàn bộ những hiểu biết pháp luật và thái độ của con người đối với pháp luật tạo thành ý thức pháp luật. Ý thức pháp luật có ảnh hưởng lớn đến việc áp dụng pháp luật. Do đó để đánh giá chứng cứ một cách chính xác, nhằm rút ra kết luận của vụ án đòi hỏi các chủ thể trong TTHS không chỉ đơn thuần nắm những chi tiết của vụ án mà còn có khả năng đánh giá diễn biến của hành vi phạm tội xảy ra khi cần áp dụng pháp luật. Muốn đạt được yêu cầu trên thì những người tiến hành tố tụng, khi đánh giá chứng cứ để chứng minh vụ án phải dự vào ý thức pháp luật. Ý thức pháp luật là điều kiện cần thiết để áp dụng đúng đắn pháp luật. Là tiền đề quan trọng đối với hình thành và củng cố niềm tin nội tâm của các chủ thể đáng giá chứng cứ.

– Đánh giá chứng cứ dựa vào niềm tin nội tâm

Niềm tin nội tâm, đó là sự tin tưởng một cách chắc chắn vào các quyết định mà mình đã đưa ra khi giải quyết vụ án, chứ không phải là ý chí chủ quan của các chủ thể khi dánh giá chứng cứ hoặc phán đoán, hoặc linh cảm , suy luận về vụ án. Giá trị chứng minh của mỗi chứng cứ chỉ có thể được xác định sau khi đã được xem xét đánh giá một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ. Trên cơ sở đó các chủ thể đưa ra quyết định của mình đối với vụ án dựa vào sự kiện, tài liệu, tình tiết thực tế đã thu thập đựơc trong quá trình tiến hành tố tụng.

Khi đánh giá chứng cứ niềm tin nội tâm có cơ sở thực tế chứ không phải những quyết định suy đoán vô căn cứ. Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy nguyên nhân của việc oan, sai thường ở việc đánh giá chứng cứ theo cảm tính, chủ quan, định kiến và phiến diện dẫn đến sự ngộ nhận chứng cứ. Tức là các chủ thể thường trực tiếp thụ cảm những thông tin về vụ án, không dựa trên nguyên tăc đánh giá chứng cứ mà theo họ chỉ cần có những chứng cứ để bảo đảm thủ tục pháp lý, còn tội của bị can, bị cáo thì đã quá rõ. Biểu hiện của sự đánh giá chứng cứ theo định kiến chủ quan thường thể hiện ở chỗ cho rằng vụ án đã rõ, chỉ cần tìm cách thu thập chứng cứ, thậm chí tạo ra những chứng cứ cho phù hợp với nhận định của mình là được.

Mặc khác một số người tiến hành tố tụng không xem xét những chứng cứ trong sự tự thân vận động của nó, không đặt nó trong mối liên hệ với nhau không xem xét chứng cứ trong hoàn cảnh , điều kiện cụ thể mà chứng cứ đã phát sinh, tồn tại nên đã dẫn đến việc nhận định và kết luận không đúng về vụ án. 

Tóm lại mục đích của việc áp dụng các nguyên tắc này vào việc đánh giá chứng cứ nhằm để xác định độ tin cậy của các chứng cứ trong vụ án hình sự để từ đó kết luật có hay không có hành vi phạm tội xảy ra, nếu có thì vi phạm điều luật nào được áp dụng điều khoản nào trong BLHS, từ đó HĐXX dựa vào đó mà ra phán quyết đúng đắn tránh làm oan người vô tội, đồng thời cũng không bỏ lọt tội phạm.

1.2.1.3. Phương pháp đánh giá chứng cứ

Đánh giá chứng cứ có ảnh hưởng đến việc sử dụng chứng cứ, làm cơ sở cho việc nhận định và kết luận về bản chất của vụ án mà chúng ta đang cần giải quyết. Do vậy đòi hỏi các chủ thể phải thận trọng, khách quan, có tác phong tỷ mỷ, cụ thể nắm vững việc vận dụng tốt và có khoa học về chứng cứ.

Trong thực tế đôi khi một sự việc phạm tội xảy ra có nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau trong việc đánh giá chứng cứ, để kết luận về vụ án. Do đó để kết luận chính xác về một vụ án và xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, chủ thể phải sử dụng tổng hợp các phương pháp đánh giá, đó là 

+ Đánh giá từng chứng cứ .

+ Đánh giá tổng hợp toàn bộ chứng cứ.

Giá trị chứng minh của chứng cứ chỉ có thể được xác định đúng nếu chúng ta biết dựa trên cơ sở của việc đánh giá từng chứng cứ, để đánh giá tổng hợp toàn bộ chứng cứ. Giữa hai cách đánh giá này có sự tác động qua lại lẫn nhau, tuỳ từng trường hợp cụ thể đôi khi các cơ quan tiến hành tố cũng có thể dựa trên cơ sở toàn bộ chứng cứ để xem xét lại giá trị từng chứng cứ riêng lẽ.

1.2.2. Sử dụng chứng cứ

Khái niệm: Sử dụng chứng cứ là việc các chủ thể chứng minh lựa chọn những chứng cứ đã được thu thập, kiểm tra, đánh giá theo quy định của pháp luật một cách khoa học, hợp lý để đưa ra quan điểm của mình đối với việc giải quyết vụ án hình sự.

Nguyên tắc sử dụng chứng cứ:

Tuỳ vào tư cách chủ thể tham gia tố tụng ở tư cách nào mà việc sử dụng chứng cứ của các chủ thể đó khác nhau về mục đích, về cách thức sử dụng. Tuy nhiên, dù là sử dụng chứng cứ theo tư cách nào, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hay người bào chữa, bảo vệ cho các đương sự thì việc sử dụng chứng cứ cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Những nguyên tắc sử dụng chứng cứ đó là:

+ Chỉ được sử dụng những chứng cứ đã thu thập, kiểm tra, đánh giá theo quy định của pháp luật.

Trình tự thủ tục thu thập chứng cứ cũng như việc đánh giá chứng cứ phải tuân theo những quy định cụ thể của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự, do đó, các chủ thể chứng minh chỉ được sử dụng những chứng cứ đã được kiểm tra, đánh giá này. Những chứng cứ chưa được kiểm tra, đánh giá bởi các cơ quan tiến hành tố tụng thì chưa được coi là chứng cứ chứng minh trong vụ án hình sự.

+ Sử dụng chứng cứ nhằm làm rõ đối tượng chứng minh

Việc sử dụng chứng cứ của các chủ thể không nhằm mục đích nào khác là nhằm là rõ đối tượng cần chứng minh, làm rõ sự thật của vụ án.

+ Phải khách quan, thận trọng

Nguyên tắc này đòi hỏi chủ thể chứng minh phải sử dụng chứng cứ một cách khách quan và thận trọng. Khách quan trong sử dụng chứng cứ là việc các chủ thể chỉ căn cứ vào sự thật khách quan, những tình tiết và sự việc có thật, sử dụng chứng cứ có cơ sở khoa học để đưa ra kết luận, quan điểm của mình chứ không phải là sử dụng chứng cứ một cách thiếu khoa học, chủ quan duy ý chí. Ngoài ra, chứng cứ có vai trò rất quan trọng nên việc quản lý, sử dụng chứng cứ đòi hỏi phải rất cẩn trọng tỷ mỉ, tránh việc mất mát thiếu sót.

Việc sử dụng chứng cứ cũng phải phù hợp với từng đặc điểm của các loại chứng cứ khác nhau, như đối vật chứng, đối với lời khai của bị can, bị cáo, đối với kết luận giám định, đối với lời khai của những người tham gia tố tụng khác hay đối với biên bản về các hoạt động điều tra,xét xử và các tài liệu, đồ vật khác.

CHƯƠNG 2.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ, SỬ DỤNG CHỨNG CỨ CỦA LUẬT SƯ

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo phải được tôn trọng và bảo vệ. Bằng hoạt động của mình trong đó có hoạt động đánh giá, sử dụng chứng cứ dựa trên  kinh nghiệm nghề nghiệp và kiến thức của mình về chứng cứ, luật sư giúp bị can, bị cáo giúp bị can, bị cáo thực hiện tốt hơn nữa quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo nghĩa vụ của họ theo quy định pháp luật, đồng thời giúp cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết và xử lý vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 11 BLTTHS có quy định: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này”.

Như vậy, khi luật sư – người bào chữa được khách hàng mời bào chữa cho họ, tức là luật sư được tham gia vào quá trình điều tra, truy tố và xét xử, được đọc các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ án đó. Và để tham gia vào vụ án hình sự, luật sư được trao một số quyền, trong đó có những quyền liên quan đến chứng cứ, như:

– Phát hiện và thu thập chứng cứ.

– Đánh giá chứng cứ.

– Sử dụng chứng cứ.

Cụ thể, tại Điều 58 BLTTHS quy định “Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa”:

+ Thu thập, tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bị mất nhà nước, bị mất công tác;

+ Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu

Khi làm công việc trên, luật sư phải tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật, như “Tuỳ theo mỗi giai đoạn tố tụng, khi thu thập được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, thì người bào chữa có trách nhiệm giao cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án”.

Tuy nhiên, mục đích của luật sư trong việc đưa ra chứng cứ khác với những cơ quan và người tiến hành tố tụng, bởi luật sư, trước hết là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ, sau nữa góp phần làm sáng tỏ những tình tiết khác nhau về vụ án. Trong thực tế, cũng có trường hợp, luật sư không được sử dụng chứng cứ thu thập được, bởi nếu sử dụng chứng cứ đó sẽ làm xấu đi tình trạng của thân chủ. Đó là trong trường hợp, bị can không thừa nhận tội lỗi, nhưng trong quá trình tìm hiểu vụ việc, luật sư phát hiện ra những chứng cứ buộc tội bị can, vì vậy, luật sư không có quyền đưa ra chứng cứ đó, bởi như vậy sẽ vi phạm đức đức nghề nghiệp, khi đó luật sư chỉ có thể từ chối bào chữa mà thôi. Giới hạn chứng minh trong vụ án hình sự là phạm vi các tình tiết, các dấu hiệu cần và đủ phải chứng minh để khẳng định một người phạm tội hay không phạm tội; giới hạn chứng minh một người phạm tội cụ thể nào đó bao giờ cũng rộng hơn giới hạn chứng minh người đó không phạm tội. Để chứng minh một người phạm tội cơ quan tiến hành tố tụng, người bị hại và luật sư của người bị hại cần phải có đủ các chứng cứ để chứng minh là hành vi phạm tội của người phạm tội phải có đủ 4 yếu tố bắt buộc trong cấu thành tội phạm, còn để chứng minh người đó không phạm tội, bị can, bị cáo, người bào chữa cho bị can, bị cáo chỉ cần chứng minh là không có một trong 4 yếu tố cấu thành tội phạm đó. Nói một cách khác, để buộc tội cần phải có nhiều chứng cứ, còn để gỡ tội có khi chỉ cần một chứng cứ

Ví dụ như: Bằng chứng ngoại phạm; theo giấy khai sinh, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; theo bệnh án, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị mắc bệnh làm mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình.

Trong trường hợp, những chứng cứ mà luật sư thu thập được về cơ bản là xác định giá trị buộc tội của các chứng cứ mà cơ quan tiến hành tố tụng dùng để chứng minh bị can, bị cáo phạm tội. Để bào chữa có hiệu quả, luật sư phải có ý kiện để phản biện (một phần hoặc toàn bộ) chứng cứ buộc tội đó, có những kiến nghị, đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng ra các quyết định khác nhau như điều tra bổ sung, điều tra lại, đình chỉ điều tra, rút cáo trạng, thay đổi tội danh nhẹ hơn, áp dụng hình phạt nhẹ hơn so với đề nghị nêu trong bản luận tội, để hội đồng xét xử cân nhắc khi định tội danh, quyết định hình phạt cho bị cáo.

Nói chung, tuỳ theo khách hàng là ai, bị can, bị cáo hay đương sự, luật sư sẽ có định hướng cho việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ khác nhau, nhưng bao giờ, khi đưa ra chứng cứ, luật sư cũng phải đảm bảo hướng có lợi nhất cho thân chủ – khách hàng của mình.

Sử dụng chứng cứ để phục vụ cho công việc là một trong những nhiệm vụ của Luật sư, nếu như đánh giá được thực hiện ở tất cả các giai đoạn tố tụng thì việc sử dụng chứng cứ cũng vậy. Trước hết Luật sư sử dụng chứng cứ để làm căn cứ để đề xuất, kiến nghị với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án, thực hiện một công việc nào đó hứng tới mục đích làm lợi cho thân chủ…Trong phiên toà, luật sư sử dụng chứng cứ để phản bác một phần hay toàn bộ quan điểm của bên đối lập, khẳng định quan điểm của mình, đề nghị Viện kiểm sát rút một phần hay toàn bộ truy tố, đề nghị Toà án áp dụng điều luật hoặc những biện pháp có tính chất tố tụng khác có lợi cho thân chủ của mình.

Trong quá trình hoạt động thu thập chứng cứ của cơ quan tiến hành tố tụng, luật sư có quyền gặp gỡ trao đổi, đề xuất với cơ quan Toà án, Viện kiểm sát nhằm:

– Khắc phục những thiếu sót trong điều tra, truy tố;

– Đảm bảo tính khách quan của hoạt động tố tụng;

– Bảo vệ những quyền lợi hợp pháp của thân chủ.

Luật sư trao đổi với Toà án và Viện kiểm sát những vấn đề về thủ tục tố tụng và chứng cứ của vụ án:

+ Về tố tụng: hồ sơ vụ án cần phải xem xét xem có đảm bảo đúng thủ tục tố tụng hình sự hay không; có việc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hay không; có cần đề nghị thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn ; nhập hoặc tách vụ án hay không.

+ Về chứng cứ: Đã có đủ chứng cứ để xét xử bị cáo chưa; nếu còn thiếu chứng cứ thì đó là chứng cứ quạn trọng hay không quan trọng đối với vụ án, có thể bổ sung tai phiên Tòa hay không; có đúng là bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội đã bị truy tố hay phạm một tội khác hoặc có người khác cùng phạm tội với bị cáo.

Khi thấy có vi phạm về thủ tục tố tụng, không đảm bảo về chứng cứ xét xử bị cáo thì Luật sư có thể gặp thẩm phán hoặc kiểm sát viên tại phòng làm việc của họ để trao đổi. Trong tường hợp cần cung cấp thêm chứng cứ thì Luật sư chủ động cung cấp thêm chứng cứ của vụ án và trao đổi với Toà án và Viện kiểm sát.

Những vấn đề cần trao đổi, đề xuất vớiToà án và Viện kiểm sát:

a-Trả hồ sơ điều tra bổ sung:

Trong trường hợp sau đây thì yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung:

– Khi thấy hồ sơ thiếu những chứng cứ quan trọng, nếu cứ xét xử thì dẫn đến oan hoặc làm cho bị cáo phạm tội nặng hơn.

– Nếu bảo vệ cho người bị hại thì khi thấy có căn cứ cho rằng bị cáo phạm một tội nặng hơn tội đã bị truy tố thì đề nghị trả hồ sơ để điều tra bổ sung thay đổi tội danh.

– Khi thấy có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho việc điều tra không chính xác ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của thân chủ.

b- Cần phải nhập, tách vụ án :

Khi thấy vụ án mà mình có trách nhiệm bảo vệ cho thân chủ nếu được nhập vào trong một vụ án khác hoặc cần tách ra để xét xử sau là phù hợp với quy địnhcủa pháp luật thì đề nghị với Viện Kiểm sát hoặc Toà án giải quyết.

c- Đề nghị triệu tập người làm chứng quan trọng đến phiên toà:

Qua nghiên cứu thấy người làm chứng quan trọng có lời khai buộc tội bị cáo, nhưng lời khai này có nhiều điểm chưa rõ hoặc có mâu thuân với chứng cứ khác trong vụ án. nếu người làm chứng này không có mặt trong phiên toà thì sự công bố lời khai của họ có thể ảnh hưởng đến sự thật của vụ án , không có lợi cho thân chủ. Vì vậy Luật sư phải đề nghị Toà án cho triệu tập người làm chứng này đến để xét hổi làm sáng tỏ sự thật của vụ án.

d-Cần thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo (nếu bảo chữa cho bị can, bị cáo )

Trong trường hợp nếu thấy việc tạm giam bị can bị cáo là không có căn cứ như tạm giam bị can, bị cáo 15 tuôỉ phạm tội nghiêm trọng, tạm giam bị can, bị cáo 17 tuổi phạm tội nhgiêm trọng do vô ý hoặc bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, khai báo thành khẩn, mắc bện nặng cần phải được chữa bệnh, việc tạm giam bị can, bị cáo không cần thiết nữa thì phải đề nghị với Toà án viện kiểm sát huỷ bỏ việc tạm giam trả tự do cho bị can, bị cáo. Nếu xét thấy cần thì đề nghị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác thay cho biện pháp tạm giam.

e- Trưng cầu giám định khi có nghi ngờ về năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo (nếu bảo chữa cho bị can, bị cáo ):

Trong trường hợp nghi ngờ bị can, bị cáo đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bện khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của họ thì đề nghị Viện kiểm sát hoặc Toà án ra quyết định trưng cầu giám định pháp y về năng lực chịu trách nhiệm hình sự của họ.

Tóm lại, việc nắm vững những quy định về quyền và nghĩa vụ của mình trong tố tụng với tư cách là người bào chữa cho bị can bị cáo hay người bảo vệ cho các đương sự cùng với khả năng đánh giá và sử dụng chứng cứ một cách khoa học và chuyên nghiệp, chính là “vũ khí” của Luật sư trong tham gia giải quyết vụ án hình sự. Vì rằng chứng cứ có một vai trò quan trọng trong việc xác định sự thật của của vụ án nên hoạt động đánh giá và sử dụng chứng cứ có thể dẫn đến một quyết định “sống còn” đối với mỗi bị can, bị cáo hay những đương sự liên quan.

KẾT LUẬN

Nói đến vai trò của Luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, lợi ích hợp pháp cho khách hàng trong vụ án hình sự là nói tới những tác động, ảnh hưởng của Luật sư trong tiến trình tố tụng thông qua chức năng nghề nghiệp mà trong đó một hoạt động rất quan trọng là đánh giá và sử dụng chứng cứ, góp phần vào quá trình dân chủ hoá hoạt động tư pháp, tạo lập công bằng xã hội.

Thông qua hoạt động đánh giá và sử dụng chứng cứ – trong tổng thể các hoạt động nghề nghiệp của mình, luật sư không chỉ thiết thực bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, của khách hàng mà còn bảo vệ pháp luật, công lý, phản ánh niềm tin của người dân vào những quyền cơ bản nhân phẩm và giá trị của con người. Chính vì thế, tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề “Kỹ năng của luật sư trong hoạt động đánh giá và sử dụng chứng cứ” có một ý nghĩa thiết thực rất lớn. Điều đó không chỉ đem lại một cái nhìn tổng thể về chứng cứ, về đánh giá và sử dụng chứng cứ trong vụ án hình sự, mà còn là một cách tiếp cận kỹ năng hành nghề của Luật sư, mà cụ thể là kỹ năng đánh giá và sử dụng chứng cứ. Không có một chuẩn mực nào cho hoạt động nghề nghiệp của luật sư, nhưng một cái nhìn thấu đáo hơn vấn đề kỹ năng nghề nghiệp Luật sư trong hoạt động đánh giá và sử dụng chứng cứ phần sẽ giúp cho các Luật sư, những người tiến hành tố tụng và cũng như những người có cùng quan tâm vận dụng trong thực tiễn, để từ đó đem lại một hiệu quả hơn trong lĩnh vực tố tụng, mà cụ thể là giải quyết một vụ án hình sự.

Với những hiểu biết còn hạn chế, người viết mong được sự chia sẻ và trao đổi của mọi người, để cùng nhau có được một cái nhìn hoàn thiện hơn về vấn đề quan tâm.

5/5 - (3 bình chọn)

 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại bình luận

Đây là nơi để trao đổi ý kiến bài viết hoặc yêu cầu download tài liệu. 

Một số lưu ý:

- Địa chỉ email bạn cung cấp tại trường "Email của bạn" sẽ không được công khai. (Không khuyến khích để lại thông tin email tại trường "Bình luận của bạn")

- KHÔNG sử dụng ngôn từ thiếu văn hoá, khiêu dâm, đe dọa, lăng nhục hay xúc phạm cá nhân, đơn vị hay tổ chức khác hoặc bình luận mang tính chất spam.