Tình huống về các yếu tố cấu thành tội phạm

0

1. Lý thuyết về các yếu tố cấu thành tội phạm

1.1. Khách thể của tội phạm

Khái niệm: Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ và bị các hành vi phạm tội xâm hại đến.

Khách thể của tội phạm gồm có 3 loại: khách thể chung; khách thể loại; khách thể trực tiếp

Về đối tượng tác động của tội phạm. Đối tượng tác động của tội phạm là một bộ phận của khách thể của tội phạm mà khi tác động lên nó, người phạm tội gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ.

Xem thêm: Phân tích mặt khách thể của tội phạm trong luật hình sự

1.2. Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm ra bên ngoài thế giới khách quan bao gồm hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, công cụ phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, hoàn cảnh, địa điểm phạm tội.

Xem thêm: Phân tích về mặt khách quan của tội phạm

1.3. Chủ thể của tội phạm

Khái niệm: Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc là pháp nhân thương mại.

Đối với chủ thể là cá nhân (con người cụ thể), thì phải là người có năng lực TNHS và đạt độ tuổi theo pháp luật hình sự quy định.

Chủ thể là pháp nhân thương mại. Là pháp nhân thực hiện chức năng kinh doanh thương mại, vì mục đích lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho nhau. Xác định điều kiện chủ thể của pháp nhân căn cứ Điều 75 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 76 BLHS năm 2015.

Xem thêm: Phân tích mặt chủ thể của tội phạm trong luật hình sự

1.4. Mặt chủ quan của tội phạm

Mặt chủ quan của tội phạm là là những biểu hiện về mặt tâm lý bên trong của người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội bao gồm lỗi, động cơ và mục đích phạm tội.

Lỗi là yếu tố bắt buộc phải có trong mọi tội phạm. Lỗi được phân thành 04 loại: Lỗi cố ý trực tiếp; lỗi cố ý gián tiếp; lỗi vô ý vì quá tự tin; lỗi vô ý do cẩu thả. (Căn cứ vào Điều 10, Điều 11 BLHS năm 2015).

Xem thêm: Phân tích mặt chủ quan của tội phạm

Hình minh họa. Tình huống về các yếu tố cấu thành tội phạm

2. Giải quyết tình huống cụ thể

2.1. Tình huống 01

2.1.1. Mô tả tình huống

Khoảng 12 giờ ngày 10/02/2018, Nguyễn Trung Đ, Cao Minh C rủ Nguyễn Thanh Anh T đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Nguyễn Thanh Anh T đồng ý và cả 03 đón xe buýt xuống khu vực Suối Tiên thuộc phường Tân Phú, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày, Đ, C và T đi ngang phòng trọ số 02, nhà số 289 đường Hoàng Hữu Nam, tổ 6, khu phố 3, phường Tân Phú, Quận 9 do anh Nguyễn Thanh H thuê ở phát hiện nhà không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T đứng ngoài cảnh giới, Đ dùng khoá mở ốc hình chữ L mang theo mở khoá cửa, sau đó cùng C vào trong nhà tìm kiếm tài sản, chiếm đoạt được 01 lắc vàng 18k có trọng lượng 1,4 chỉ, 01 điện thoại di động hiệu Samsung, 01 điện thoại di động hiệu Qmobile. Sau khi chiếm đoạt được tài sản Đ, C và T định tẩu thoát thì bị bị các chị Lê Thị Y và Hoàng Hồng B là những người ở chung dãy nhà trọ phát hiện báo Công an phường Tân Phú, Quận 9 bắt giữ Đ, C, T cùng tang vật.

Được biết, Nguyễn Thanh Anh T sinh ngày 24/3/1997, Cao Minh C sinh ngày 21/9/2003 và Nguyễn Trung Đ 15/10/2003. Và tội mà T và đồng bọn thực hiện là tội trộm cắp tài sản tại khoản 1, Điều 173 BLHS năm 2015.

2.1.2. Yêu cầu về vấn đề cần giải quyết

1. Xác định đối tượng tác động và khách thể của tội phạm trong vụ án trên

2. Phân tích mặt khách quan của tội phạm được biểu hiện trong vụ án

3. Trong vụ án trên, ai là người bị truy cứu trách nhiệm hình sự? Tại sao?

2.1.3. Định hướng giải quyết vấn đề

Các sự kiện có ý nghĩa pháp lý

– Khoảng 12 giờ, ngày 10/02/2018, Đ và C rủ T đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài; Đ, C và T đi ngang phòng trọ do anh Nguyễn Thanh H thuê ở phát hiện nhà không có người trông coi;

– T đứng ngoài canh, Đ dùng khoá mở khoá cửa, chiếm đoạt được 01 lắc vàng 18k có trọng lượng 1,4 chỉ, 01 điện thoại di động hiệu Samsung, 01 điện thoại di động hiệu Qmobile; Đ, C và T định tẩu thoát thì bị phát hiện và bắt giữ;

– Nguyễn Thanh Anh T sinh ngày 24/3/1997, Cao Minh C sinh ngày 21/9/2003 và Nguyễn Trung Đ sinh ngày 15/10/2003.

Pháp luật liên quan cần áp dụng

– Khoản 2, Điều 12 BLHS năm 2015;

– Khoản 1, Điều 9 BLHS năm 2015;

– Khoản 1, Điều 173 BLHS năm 2015.

Cách thức áp dụng

1. Căn cứ vào khoản 1, Điều 173 BLHS năm 2015 và căn cứ vào các tình tiết có trong tình huống, đối tượng tác động của tội phạm trong vụ án này là vật chất, cụ thể là 01 lắc vàng 18k có trọng lượng 1,4 chỉ, 01 điện thoại di động hiệu Samsung, 01 điện thoại di động hiệu Qmobile.

Như vậy, thông qua việc tác động vào các vật chất (tài sản) trên, tội phạm đã xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản đã được Luật hình sựbảo vệ, đây chính là khách thể của tội phạm.

2. Mặt khách quan của tội phạm được biểu hiện trong vụ án Trong vụ án này, những yếu tố của mặt khách quan được thể hiện như sau:

– Về hành vi phạm tội

Khi đi ngang phòng trọ số 02, nhà số 289 đường Hoàng Hữu Nam, tổ 6, khu phố 3, phường Tân Phú, Quận 9 phát hiện nhà không có người trông coi, nên Nguyễn Trung Đ, Cao Minh C và Nguyễn Thanh Anh T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Nguyễn Thanh Anh T đứng ngoài canh, Nguyễn Trung Đ dùng khoá mở ốc hình chữ L mang theo mở khoá cửa, sau đó cùng Cao Minh C vào trong nhà tìm kiếm tài sản, chiếm đoạt được 01 lắc vàng 18k có trọng lượng 1,4 chỉ, 01 điện thoại di động hiệu Samsung, 01 điện thoại di động hiệu Qmobile. Như vậy, cả ba đối tượng này đã lợi dụng sự sơ hở của nạn nhân, phân công nhau, có hành vi lén lút và chiếm đoạt tài sản.

Đây là loại tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất, nên tội phạm hoàn thành khi các đối tượng chiếm đoạt được tài sản.

+ Về hậu quả: Tội phạm đã chiếm đoạt tổng tài sản là 01 lắc vàng 18k có trọng lượng 1,4 chỉ, 01 điện thoại di động hiệu Samsung, 01 điện thoại di động hiệu Qmobile.

Về mối quan hệ nhân quả: Hành vi lén lút nhằm chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Trung Đ, Cao Minh C và Nguyễn Thanh Anh T đã gây thiệt hại vật chất cho người khác.

3. Trong vụ án trên, chỉ có Nguyễn Thanh Anh T bị truy cứu TNHS còn Cao Minh C và Nguyễn Trung Đ không bị truy cứu.

Dựa vào vụ án, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, hai đối tượng Cao Minh C và Nguyễn Trung Đ chưa đủ 16 tuổi.

Căn cứ vào khoản 2, Điều 12 BLHS năm 2015 quy đinh về độ tuổi, thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản tại Điều 173 khi loại tội thực hiện là tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

Căn cứ vào điểm c và điểm d, khoản 1 Điều 9 BLHS năm 2015 về phân loại tội phạm thì, tội rất nghiêm trọng là loại tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt là từ trên 7 năm đến 15 năm tù; tội đặc biệt nghiêm trọng là  loại tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, chung thân hoặc tử hình.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 về tội trộm cắp tài sản, thì mức cao nhất của khung hình phạt là đến 3 năm.

Như vậy, tội phạm mà các đối tượng này thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng9. Do đó, Cao Minh C và Nguyễn Trung Đ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Kết luận

1. Đối tượng tác động của tội phạm trong vụ án này là 01 lắc vàng 18k có trọng lượng 1,4 chỉ, 01 điện thoại di động hiệu Samsung, 01 điện thoại di động hiệu Qmobile. Khách thể là quan hệ sở hữu tài sản

2. Mặt khách quan của tội phạm được biểu hiện trong vụ án:

+ Về hành vi phạm tội: Đ, C và T đã có hành vi lén lút để chiếm đoạt tài sản

+ Về hậu quả: Tội phạm đã chiếm đoạt tổng tài sản là 01 lắc vàng 18k có trọng lượng 1,4 chỉ, 01 điện thoại di động hiệu Samsung, 01 điện thoại di động hiệu Qmobile.

3. Vụ án này, Cao Minh C và Nguyễn Trung Đ không phải chịu trách nhiệm hình sự vì chưa đủ tuổi chịu TNHS.

Câu hỏi bổ sung

Trong vụ án trên, giả sử không xác định được ngày tháng sinh của C và Đ mà chỉ xác định được C và Đ sinh năm 2003, thì C và Đ có phải chịu TNHS không? Tại sao?

2.2. Tình huống 02

2.2.1. Mô tả tình huống

Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 23/4/2017, Trương Văn L sinh năm 1967, điều khiển xe ô tô khách biển số 60S-4498 lưu thông trên đường Nguyễn Chí Thanh (theo hướng từ đường Ngô Quyền về đường Nguyễn Tri Phương); khi xe chạy đến trước nhà số 322 đường Nguyễn Chí  Thanh, Phường 5, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, L quan sát phía trước cùng chiều có một xe ô tô (loại bốn chỗ), L muốn xe mình vượt lên trước ô tô này, nên điều khiển xe lách sang trái vào phần làn đường ô tô theo chiều ngược lại để vượt. Khi xe vừa lách sang, L điều khiển đã để cản trước bên trái của xe đụng vào chiếc xe mô tô biển số 59U1- 611.00 do anh Huỳnh Chí Q điều khiển lưu thông theo hướng ngược lại (lưu thông lấn tuyến sang làn đường ô tô) gây tai nạn, làm anh Q té ngã xuống đường cùng xe, L dừng xe lại và cùng quần chúng nhân dân đưa anh Q đi cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy, đến khoảng 06 giờ 13 phút cùng ngày thì anh Q chết.

Được biết, Trương Văn L phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại khoản 1, Điều 260 BLHS năm 2015

2.2.2. Yêu cầu về vấn đề cần giải quyết

1. Phân tích vai trò pháp lý của yếu tố hậu quả của tội pham trong tình huống trên.

2. Xác định yếu tố lỗi mà Trương Văn L đã thực hiện.

2.2.3. Định hướng giải quyết vấn đề

Các sự kiện có ý nghĩa pháp lý

Khi xe của Trương Văn L chạy đến trước nhà số 322 đường Nguyễn Chí Thanh, L quan sát phía trước cùng chiều có một xe ô tô (loại bốn chỗ), L muốn xe mình vượt lên trước ô tô này, nên điều khiển xe lách sang trái vào phần làn đường ô tô theo chiều ngược lại để vượt. Khi xe vừa lách sang, L điều khiển đã để cản trước bên trái của xe đụng vào chiếc xe mô tô do anh Huỳnh Chí Q điều khiển lưu thông theo hướng ngược lại (lưu thông lấn tuyến sang làn đường ô tô);

– Tai nạn xảy ra: làm anh Q té ngã xuống đường cùng xe, L dừng xe lại và cùng quần chúng nhân dân đưa anh Q đi cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy, đến khoảng 06 giờ 13 phút cùng ngày thì anh Q chết;

– Trương Văn L phạm tội vi phạm quy định khi tham gia giao thông đường bộ tại khoản 1, Điều 260 BLHS năm 2015.

Pháp luật liên quan cần áp dụng

– Khoản 1, Điều 260 BLHS năm 2015;

– Điều 11 BLHS năm 2015.

Cách thức áp dụng

1. Hậu quả trong vụ án trên có vài trò pháp lý dùng để định tội đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông tại khoản 1, Điều 260 BLHS năm 2015. Cụ thể:

Khoản 1, Điều 260 BLHS năm 2015 quy định : “Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

  1. a) Làm chết người;
  2. b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương có thể 61% trở lên;
  3. c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.”

Như vậy, hậu quả về tính mạng, sức khỏe hoặc thiệt hại về tài sản là dấu hiệu bắt buộc phải có của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông được quy định tại khoản 1, Điều 260 BLHS năm 2015.

Đây là tội có cấu thành tội phạm vật chất, đòi hỏi trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm phải có hành vi phạm tội và hậu quả của tội phạm. 2. Trương Văn L phạm tội với lỗi vô ý, cụ thể là vô ý do cẩu thả. Bởi vì, khi thực hiện hành vi phạm tội của mình, L không nhận thức được hành vi của mình là hành vi nguy hiểm, không nhận được hậu quả nguy hiểm có thể xãy ra. Tuy nhiên trong trường hợp này, pháp luật buộc L phải nhận thức được và L có khả năng nhận thức được, nhưng vì sự cẩu thả nên L không nhận thức. Hành vi

37

đánh lái sang trái để vượt lên xe xe khác chạy cùng chiều của L đòi hỏi phải có sự quan sát kỹ những xe lưu thông cùng chiều và ngược chiều với mình, tuy nhiên, trong vụ án này, anh L thiếu quan sát do đó đã gây ra tại làm Q chết. Và rõ ràng Q không mong muốn cũng không để mặc cho Q chết.

Kết luận

1. Trong vụ án trên hậu quả của tội phạm là yếu tố bắt buộc phải có để định tội.

2. Trương Văn Linh phạm tội với lỗi vô ý do cẩu thả.

Câu hỏi bổ sung

Hãy xác định đối tượng tác động của tội phạm và khách thể trực tiếp của tội phạm đối với tội phạm mà L đã thực hiện trong tình huống trên.

2.3. Tình huống 03

2.3.1. Mô tả tình huống

Khoảng tháng 10/2017, thông qua mạng xã hội Facebook, bị cáo Huỳnh Anh T quen biết và nảy sinh tình cảm yêu đương với cháu Đỗ Hoàng Nhã P, sinh ngày 19/01/2004. Trong khoảng thời gian từ tháng 6/2018 đến ngày 25/7/2018, bị cáo đã giao cấu với cháu P tổng cộng 04 lần, cụ thể: 01 lần vào khoảng giữa tháng 7/2018, bị cáo giao cấu với cháu P tại nhà của bị cáo, 03 lần còn lại tại nhà của cháu P là vào khoảng tháng 6/2018. Ngày 26/7/2018 chị Phạm Thị H là mẹ ruột của cháu P đi làm về phát hiện nên trình báo Công an xử lý. Kết luận giám định pháp y về tình dục số: 35/2018/TD ngày 26/7/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Tây Ninh xác định cháu Đỗ Hoàng Nhã P màng trinh rách cũ vị trí 6 giờ đến sát chân màng trinh, hiện không phát hiện có thai. Kết luận giám định pháp y về độ tuổi số: 32/ĐT.18 ngày 20/8/2018 của Trung tâm pháp y Thành phố HCM xác định thời điểm giám định ngày 16/8/2018 bị cáo Huỳnh Anh T có độ tuổi trên 20 tuổi đến dưới 23 tuổi. Kết luận giám định số: 3179/C09B ngày 10/9/2018 xác định trong mẫu dịch âm đạo của cháu Đỗ Hoàng Nhã P có tinh trùng kiểu gen trùng với kiểu gen của bị cáo Huỳnh Anh T.

Được biết tội phạm được thực hiện là tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo điều 145 BLHS năm 2015.

2.3.2. Yêu cầu về vấn đề cần giải quyết

1. Xác định những điều kiện về chủ thể của tội phạm trong tình huống trên.

2. Giả sử, tại thời điểm thực hiện hành vi giao cấu, Huỳnh Anh T bị rơi vào tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự thì có bị truy cứu TNHS không? Tại sao?

2.3.3. Định hướng giải quyết vấn đề

Các sự kiện có ý nghĩa pháp lý

– Khoảng tháng 10/2017, Huỳnh Anh T quen biết và nảy sinh tình cảm yêu đương với cháu Đỗ Hoàng Nhã P (sinh ngày 19/01/2004). Trong khoảng thời gian từ tháng 6/2018 đến ngày 25/7/2018, bị cáo đã giao cấu với cháu P tổng cộng 04 lần;

– Kết luận giám định pháp y về độ tuổi, xác định thời điểm giám định ngày 16/8/2018 bị cáo Huỳnh Anh T có độ tuổi trên 20 tuổi đến dưới 23 tuổi; – Tội phạm được thực hiện là tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo Điều 145 BLHS năm 2015.

Pháp luật liên quan cần áp dụng

– Điều 12, Điều 13 và Điều 21 BLHS năm 2015;

– Điều 142 và Điều 145 BLHS năm 2015.

Cách thức áp dụng

1. Những điều kiện để thỏa mãn đối với chủ thể của tội phạm trong vụ án trên bao gồm:

Điều kiện về năng lực TNHS. Pháp luật hình sự quy định chỉ những người nào thuộc vào những trường hợp bị mất năng lực TNHS tại Điều 21 BLHS năm 2015 thì không bị truy cứu TNHS, đó là trường hợp “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình”.

Điều kiện về độ tuổi chịu TNHS. Căn cứ vào khoản 2, Điều 12 BLHS năm 2015 thì người từ đủ 16 tuổi trở lên chịu TNHS về mọi loại tội phạm trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

Như vậy một người được xem là thỏa mãn chủ thể của tội phạm khi đạt độ tuổi theo luật định và có năng lực TNHS. Tuy nhiên, tại khoản 1, Điều 145 BLHS quy định “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

Với quy định này, thì chủ thể của tội phạm phải đủ điều kiện là người “từ đủ 18 tuổi trở lên” mới thỏa mãn, đây thuộc trường hợp “những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác” được quy định tại khoản 1 Điều 12 BLHS năm 2015.

2. Căn cứ vào Điều 21 BLHS năm 2015 về những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự quy định “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự”. Như vậy, trường hợp mất năng lực TNHS chỉ không bị truy cứu TNHS trong trường hợp “đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi”, còn những trường hợp khác vẫn bị truy cứu TNHS, chẳng hạn như trường hợp thực hiện hành vi nguy hiểm trong tình trạng say do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác làm mất năng lực TNHS được quy định tại Điều 13 BLHS năm 2015.

Kết luận

1. Điều kiện thỏa mãn chủ thể của tội phạm bao gồm: Điều kiện về độ tuổi và điều kiện về năng lực TNHS.

2. Trường hợp mất năng lực TNHS do do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác vẫn phải chịu TNHS.

Câu hỏi bổ sung

1. Giả sử tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Huỳnh Anh T tròn 14 tuổi, và Đỗ Hoàng Nhã P mới 12 tuổi thì Huỳnh Anh T có bị truy cứu TNHS không, tại sao? Được biết hành vi của T thuộc tội phạm quy định tại Điều 142 BLHS năm 2015

2. Anh (chị), hãy đặt 03 câu hỏi để bổ sung làm sáng tỏ các dấu hiệu định tội, định khung đối với tội phạm mà Huỳnh Anh T thực hiện, từ đó đưa ra hướng trả lời cho các câu hỏi đó.

5/5 - (1 bình chọn)

 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại bình luận

Đây là nơi để trao đổi ý kiến bài viết hoặc yêu cầu download tài liệu. 

Một số lưu ý:

- Địa chỉ email bạn cung cấp tại trường "Email của bạn" sẽ không được công khai. (Không khuyến khích để lại thông tin email tại trường "Bình luận của bạn")

- KHÔNG sử dụng ngôn từ thiếu văn hoá, khiêu dâm, đe dọa, lăng nhục hay xúc phạm cá nhân, đơn vị hay tổ chức khác hoặc bình luận mang tính chất spam.