Tình huống về trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt

0

1. Lý thuyết về trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt

1.1. Khái niệm trách nhiệm hình sự

Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm mà cá nhân người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước về hành vi phạm tội của mình mà nội dung của nó là hình phạt và các biện pháp cưỡng chế hình sự khác theo quy định của Bộ luật hình sự.

1.2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật Hình sự quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (Căn cứ vào Điều 27 Bộ luật Hình sự năm 2015). Theo đó, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được xác định như sau:

+ 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

+ 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;

+ 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

+ 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn còn thời hiệu, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới. Mặt khác, nếu trong thời hạn này, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.

1.3. Án treo

Án treo là một chế định quan trọng trong Pháp luật hình sự Việt Nam, theo đó án treo là là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. (căn cứ vào Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015; căn cứ vào Nghị quyết 02/2018/HĐTPTANDTC hướng dẫn về án treo)

Người bị xử phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ 05 điều kiện: (1) Bị xử phạt tù không quá 03 năm; (2) Có nhân thân tốt; (3) Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; (4) Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục; (5) Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Người bị áp dụng án treo phải chịu thêm thời gian thử thách. Thời gian thử thách được ấn định bằng hai lần mức hình phạt tù, nhưng không được dưới 01 năm và không được quá 05 năm.

1.4. Quyết định hình phạt

Quyết định hình phạt là việc Toà án lựa chọn một loại hoặc một mức trong giới hạn của một loại hình phạt để áp dụng đối với người phạm tội. Để quyết định hình phạt đối với người phạm tội, cần phải dựa vào 04 căn cứ sau:

+ Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự;

+ Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội;

+ Căn cứ vào nhân thân của người phạm tội;

+ Các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

* Một số trường hợp cần lưu ý khi quyết định hình phạt, bao gồm:

+ Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội

Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội là trường hợp bị cáo thực hiện nhiều hành vi phạm tội thuộc nhiều loại tội phạm khác nhau, đều chưa hết thời hiệu, chưa bị xét xử và bị đưa ra xét xử cùng một lần. (căn cứ vào Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015)

+ Quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án

Là trường hợp người phạm tội đang chấp hành một bản ánl ại bị đưa ra xét xử về tội phạm khác. (Căn cứ Điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015)


2. Giải quyết tình huống cụ thể

2.1. Tình huống 01

2.1.1. Mô tả tình huống

Trong quá trình truy cập mạng Internet, Đỗ Giang N sinh năm 1975 quen một người tên là Lê Thị H. Khoảng đầu tháng 6/2017, qua mạng Internet, H và N đã bàn bạc thực hiện việc lừa đảo với thủ đoạn đột nhập vào mạng máy tính chuyển tiền điện tử của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, rồi phát đi các lệnh chuyển tiền giả nhằm chiếm đoạt tiền từ các Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn các địa phương.

Cuối tháng 6/2017 N và H gặp nhau tại Hà Nội để bàn bạc phân công H là người đột nhập vào mạng máy tính chuyển tiền điện tử của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, phát đi các lệnh chuyển tiền giả đến các Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn Hà Nội và các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình và Thanh Hóa. Còn N có nhiệm vụ tìm chứng minh thư nhân dân của người khác bóc ảnh ra, dán ảnh của N vào rồi đến các Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát  triển nông thôn mà H đã phát lệnh chuyển tiền giả đến để rút tiền. Ngày 10/7/2017, N lên Hà Nội vào chợ lao động tại khu vực cầu Chui, quận Long Biên, Hà Nội lừa lấy một chứng minh thư nhân dân của một người mang tên Nguyễn Văn T. N đã bóc ảnh anh T trong chứng minh thư nhân dân đi, dán ảnh N vào. N thông báo cho H biết họ tên, số chứng minh thư nhân dân của người có tên là T, để H phát các lệnh chuyển tiền cho người nhận có tên là Nguyễn Văn T. Ngày 14/7/2017, H đột nhập vào mạng máy tính chuyển tiền điện tử của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, phát đi 04 lệnh chuyển tiền giả từ Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đến 04 Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tại Hà Nội với tổng số tiền của 04 lệnh là 979.000.000 đồng. Tuy nhiên, 14/7/2017 Chi nhánh Ngân hàng Quảng Ninh đã phát hiện ra 04 lệnh chuyển tiền trên là lệnh chuyển tiền giả nên đã có Công văn yêu hủy 04 lệnh chuyển tiền này đi. Do đó, N không chiếm đoạt được số tiền trên.

Ngày 22/7/2017 N lên chợ lao động tại phường Giáp Bát, quận Hoàng Mai, Hà Nội lừa lấy một chứng minh thư nhân dân của một người mang tên Bùi Công A. N đã bóc ảnh của anh A trong chứng minh thư nhân dân đi, rồi dán ảnh của N vào. N thông báo cho H biết họ tên, số chứng minh thư nhân dân của người có tên là A, để H phát các lệnh chuyển tiền cho người nhận có tên là Bùi Công A. Ngày 29/7/2017, H đột nhập vào mạng máy tính chuyển tiền điện tử của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, phát 06 lệnh chuyển tiền đi từ Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hải Thành, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng cho người nhận có tên Bùi Công A với tổng số tiền của 06 lệnh là 1.432.000.000 đồng. Hồi 10 giờ ngày 29/7/2017 khi Đỗ Giang N đang làm thủ tục nhận tiền tại Chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Ninh Bình thì bị bắt quả tang.

Tổng số tiền mà Đỗ Giang N có ý định chiếm đoạt qua hai lần thực hiện với 10 lệnh chuyển tiền là 2.411.000.000 đồng.

2.1.2. Yêu cầu về vấn đề cần giải quyết

1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đỗ Giang N và H được xác định như thế nào?

2. Trong vụ án này, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội có tổ chức” tại điểm a, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015. Theo anh (chị), việc áp dụng tình tiết tăng nặng đó có hợp lý không? Tại sao?

3. Giả sử trong vụ án trên, Đỗ Giang N phạm tội tại khoản 3 Điều 174 và có 2 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, mà không có tình tiết tăng nặng thì N có thể được hưởng án treo không? Tại sao?

2.1.3. Định hướng giải quyết vấn đề

Các sự kiện có ý nghĩa pháp lý

– Thời điểm Đỗ Giang N và H bắt tay vào việc thực hiện hành vi được miêu tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm là ngày 10/7/2017 ; – Mức độ câu kết để phạm tội giữa Đỗ Giang N với H trong vụ án;

– Hành vi phạm tội của Đỗ Giang N bị phát hiện và bắt giữ; – Tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà Đỗ Giang N thực hiện.

Pháp luật liên quan cần áp dụng

– Điều 27; 174; Điều 51; Điều 52; Điều 54; Điều 65 Điều Bộ luật Hình sự năm 2015;

– Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo;

– Khoản 1 Điều 4, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Cách thức áp dụng

1. Căn cứ vào Khoản 3 Điều 27 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì thời hiệu tính từ ngày tội phạm được thực hiện, do đó thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đỗ Giang N và H được tính từ ngày 10/7/2017, đây là thời điểm N và  H bắt tay vào việc thực hiện hành vi được miêu tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm.

Tội của Đỗ Giang N và H thực hiện là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do đó, căn cứ vào điểm d, khoản 2 Điều 27 và Khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nam Giang và H là 20 năm.

Như vậy thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đỗ Giang N và H được xác định từ 10/7/2017 đến hết ngày 9/7/2037.

2. Việc áp dụng tình tiết “phạm tội có tổ chức” tại điểm a khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 là hợp lý, bởi vì:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm”. Cụ thể, là hình thức đồng phạm có sự bàn bạc kỹ lưỡng, chu đáo về phương án, kế hoạch phạm tội, cũng như che giấu tội phạm, trong đồng phạm phải có sự phân công phân nhiệm rõ ràng, đồng phạm tồn tại bền vững, lâu dài…Vì đây là vụ án khá phức tạp khi phải sử dụng đến mạng máy tính, thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của ngân hàng do đó đòi hỏi phải lên phương án, kế hoạch kỹ lưỡng, trong vụ án Đỗ Giang N với H đã có sự bàn bạc về phương án, kế hoạch phạm tội khá kỹ càng, chu đáo; phân chia cộng việc, nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể; Đỗ Giang N và H gặp nhau bàn bạc và thống nhất phương án và kế hoạch phạm tội, và sau khi thực hiện hành vi lần thứ nhất không thành công, N và H tiếp tục bàn bạc và thực hiện lần thứ hai, với sự phân công phân nhiệm rõ ràng, sự phối hợp chặt chẽ lẫn nhau, N và H đã thực hiện tội pham thành công. Trên cơ sở đó, có thể khẳng định, việc áp dụng tình tiết “phạm tội có tổ chức” đối với Đỗ Giang N và H là hợp lý.

3. Nếu Đỗ Giang N phạm tội tại khoản 3, Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 và có 2 tình tiết giảm nhẹ trở lên, không có tình tiết tăng nặng thì N vẫn có thể được hưởng án treo. Bởi vì:

Căn cứ vào Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 và căn cứ vào Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 về án treo thì án treo được áp dụng đối với người bị xử phạt tù không quá 3 năm; người có nhân thân tốt; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có từ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên trong đó có ít nhất một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xét thấy không cần cách ly người phạm tội ra khỏi khu vực quản lý và có nơi cư trú rõ ràng thì vẫn có thể được hưởng án treo và không thuộc một trong các trường hợp không cho hưởng án treo được quy định tại khoản 3 Nghị quyết 02/2018. Căn cứ vào khoản 1, Điều 54 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự năm 2015, thì “Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này”. Như vậy, nếu Đỗ Giang N được Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng thì Đỗ Giang N được chuyển xuống khung hình phạt liền kề tại khoản 2 Điều 174 với khung hình phạt mà tòa án lựa chọn là từ 2 năm đến dưới 7 năm, do đó Tòa án có thể tuyên thời gian hình phạt tù trong khoảng từ 2 năm đến 3 năm đối với Đỗ Giang N, và cho Đỗ Giang N hưởng án treo.

Kết luận

1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đỗ Giang N và H được xác định từ 10/7/2017 đến hết ngày 9/7/2037.

2. Việc áp dụng tình tiết “phạm tội có tổ chức” tại điểm a khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 là hợp lý.

3. Đỗ Giang N vẫn có thể được hưởng án treo.

Câu hỏi bổ sung

1. Trong vụ án này, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội tự thú” tại điểm r, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự  năm 2015. Theo anh/ chị, việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ này đã hợp lý chưa? Tại sao?

2. Thông qua các tính chất pháp lý của các tình tiết trong tình huống trên. Hảy phân biệt tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ với tình tiết định khung tăng nặng, tình tiết định khung giảm nhẹ. Cho ví dụ minh họa.

2.2. Tình huống 02

2.2.1. Mô tả tình huống

Tại bản án hình sự phúc thẩm số 1934/HSPT ngày 16/01/2018, Toà phúc thẩm TAND tỉnh KH tuyên phạt Nguyễn Xuân B 10 (mười) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được thực hiện vào ngày 20/01/2014, tổng hợp với hình phạt 15 (mười lăm) năm tù về tội “cướp tài sản” tại bản án hình sự phúc thẩm số 1888/HSPT ngày 23/3/2014 của TAND tỉnh KH; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 25 (hai mươi lăm) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/3/2014.

Ngày 22/4/2018, Nguyễn Xuân B bị Tòa án sơ thẩm tỉnh KH đưa ra xét xử về tội phạm giết người được thực hiện vào ngày 28/2/2018. Tại bản án sơ thẩm số 2027/HSST ngày 23/4/2018, Nguyễn Xuân B bị Tòa án tuyên mức án là 16 năm tù về tội giết người. Tổng hợp với bản án phúc thẩm số 1934/HSPT ngày 16/01/2018 với 25 năm tù, nên Nguyễn Xuân B phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 30 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/3/2014.

Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nên đã có hiệu lực pháp luật và thi hành từ ngày 8/5/2018 . Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 27/2018/HS-TK ngày 30/12/2018, Chánh án TAND tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, huỷ phần quyết định tổng hợp hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số 2027/HSST ngày 23/4/2018 của TAND tỉnh KH đối với Nguyễn Xuân B, để tổng hợp hình phạt của các bản án theo đúng quy định của pháp luật.

2.2.2. Yêu cầu về vấn đề cần giải quyết

1. Theo anh/chị, Chánh án Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao yêu cầu huỷ phần quyết định tổng hợp hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số 2027/HSST ngày 23/4/2018 của TAND tỉnh KH để tổng hợp lại là đúng hay sai? Cơ sở pháp lý?

2. Hãy nêu cách thức tổng hợp hình phạt đối với Nguyễn Xuân B trong trường hợp trên.

2.2.3. Định hướng giải quyết vấn đề

Các sự kiện có ý nghĩa pháp lý

– Ngày 23/3/2014 TAND tỉnh KH tuyên bản án hình sự phúc thẩm số 1888/HSPT đối với Nguyễn Xuân B về tội cướp tài sản với mức án 15 năm tù;

– Nguyễn Xuân B thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản vào ngày 20/01/2014, nhưng đến ngày 16/01/2018 mới xét xử phúc thẩm và bị tuyên 10 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hai bản án là 25 năm, thời gian tính từ ngày 23/3/2014;

– Ngày 22/4/2018, Nguyễn Xuân B bị Tòa án sơ thẩm tỉnh KH đưa ra xét xử về tội phạm giết người được thực hiện vào ngày 28/2/2018 với mức án 16 năm tù;

– Tổng hợp với bản án đang chấp hành, Nguyễn Xuân B phải chấp hành hình phạt chung là 30 năm, thời gian tính từ ngày 23/3/2014. Pháp luật liên quan cần áp dụng

Điều 55 và Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015

Cách thức áp dụng

1. Chánh án Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao yêu cầu huỷ phần quyết định tổng hợp hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số 2027/HSST ngày 23/4/2018 của TAND tỉnh KH để tổng hợp lại là đúng.

Căn cứ vào khoản 1, Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định Trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này. Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung”. Và căn cứ vào khoản 2, Điều 56 Bộ luật Hình sự 2015 quy định “Khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phân hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này”. Trong trường hợp này, Nguyễn Xuân B thực hiện hành vi giết người khi đang chấp hành bản án hình sự phúc thẩm số 1934/HSPT ngày 16/01/2018 (tức là phạm tội mới trong khi chấp hành bản án), do đó, TAND tỉnh KH phải tính thời gian còn lại của bản án đang chấp hành, sau đó mới tổng hợp vào bản án chung với tội phạm đang xét xử, chứ không được tính bản án chung sau đó mới trừ đi thời gian mà B đã chấp hành.

2. Tổng hợp hình phạt đối với Nguyễn Xuân B là trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều bản án. Cụ thể, trong quá trình chấp hành hình phạt tại bản án hình sự phúc thẩm số 1934/HSPT ngày 16/01/2018, thì B thực hiện hành vi phạm tội mới. Do đó, căn cứ vào điểm a, khoản 1 Điều 55 và khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, bản án đối với B được tổng hợp như sau:

Bước 1: Tòa án tuyên phạt Nguyễn Xuân B 16 (mười sáu) năm tù về tội giết người;

Bước 2: Tính thời gian còn lại của bản án đang chấp hành, cụ thể: 25 năm – 4 năm = 21 năm;

Bước 3. Tổng hợp hình phạt chung của hai bản án: 21 + 16 = 30 năm13. Như vậy, Nguyễn Xuân B phải chấp hành hình phạt 30 năm tù tính từ ngày 8/5/2018.

13 Căn cứ vào điểm a, khoản 1, Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì khi tổng hợp hình phạt tù có thời hạn thì không được vượt quá 30 năm tù.

Kết luận

1. Chánh án Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao yêu cầu huỷ phần quyết định tổng hợp hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số 2027/HSST ngày 23/4/2018 của TAND tỉnh KH để tổng hợp lại là đúng.

2. Nguyễn Xuân B phải chấp hành hình phạt 30 năm tù tính từ ngày 8/5/2018.

Câu hỏi bổ sung

Từ việc tổng hợp hình phạt của tình huống trên đối với Nguyễn Xuân B, anh (chị) hãy nhận xét về quan điểm sau: “trên thực tế, người phạm tội bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn có thể phải chấp hành trên 30 năm”.

5/5 - (1 bình chọn)

 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại bình luận

Đây là nơi để trao đổi ý kiến bài viết hoặc yêu cầu download tài liệu. 

Một số lưu ý:

- Địa chỉ email bạn cung cấp tại trường "Email của bạn" sẽ không được công khai. (Không khuyến khích để lại thông tin email tại trường "Bình luận của bạn")

- KHÔNG sử dụng ngôn từ thiếu văn hoá, khiêu dâm, đe dọa, lăng nhục hay xúc phạm cá nhân, đơn vị hay tổ chức khác hoặc bình luận mang tính chất spam.