Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội đối với người dưới 18 tuổi

0

1. Căn cứ pháp lý

Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội đối với người dưới 18 tuổi được quy định tại Điều 103 Bộ luật Hình sự 2015, cụ thể như sau:

Điều 103. Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội

1. Khi xét xử cùng một lần người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội thì Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này.

Nếu hình phạt chung là cải tạo không giam giữ thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 03 năm. Nếu hình phạt chung là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không được vượt quá 18 năm đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội và 12 năm đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội.

2. Đối với người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi đủ 16 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 16 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt áp dụng như sau:

a) Nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi người đó đủ 16 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi người đó đủ 16 tuổi nặng hơn mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Đối với người phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi đủ 18 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 18 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt áp dụng như sau:

a) Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt áp dụng đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi nặng hơn mức hình phạt áp dụng đối với tội thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi thì hình phạt chung áp dụng như đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội.


2. Phân tích quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội đối với người dưới 18 tuổi

Điều 75 BLHS 1999 quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội có một số hạn chế, bất cập: một là, chỉ quy định nguyên tắc tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội có tội thực hiện trước khi người đó 18 tuổi, có tội thực hiện sau khi người đó 18 tuổi mà chưa có quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp các tội đều thực hiện trước khi người đó 18 tuổi (trường hợp các tội được thực hiện khi người đó đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và trường hợp có tội thực hiện khi người đó đủ 14 đến dưới 16, có tội thực hiện sau khi người đó đủ 16 tuổi); hai là, khái niệm tội nặng nhất quy định tại Điều 75 rất khó xác định trên thực tế, gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình tổng hợp hình phạt.

Để góp phần khắc phục bất cập, hạn chế này, Điều 103 của BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội theo hướng:

Thứ nhất, bổ sung quy định về nguyên tắc chung về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, theo đó Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt chung theo quy định tại Điều 55. Nếu hình phạt chung là cải tạo không giam giữ thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 03 năm. Nếu hình phạt chung là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không được vượt quá 18 năm đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội và 12 năm đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội.

Thứ hai, bổ sung quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi người phạm tội đủ 16 tuổi, có tội được thực hiện sau khi người phạm tội đủ 16 tuổi, theo nguyên tắc:

– Nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi người đó đủ 16 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều này.

– Nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi người đó đủ 16 tuổi nặng hơn mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều này.

Thứ ba, bổ sung quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi người phạm tội đủ 18 tuổi, có tội được thực hiện sau khi người phạm tội đủ 18 tuổi, theo nguyên tắc:

– Nếu mức hình phạt Toà án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt áp dụng đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại khoản 1 Điều này.

– Nếu mức hình phạt Toà án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi nặng hơn mức hình phạt áp dụng đối với tội thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi thì hình phạt chung áp dụng như đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội.

So với Bộ luật hình sự năm 1999, Bộ luật lần này đã khắc phục cơ bản những bất cập và sự bất hợp lý khi tổng hợp hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội vừa thể hiện chính sách khoan hồng nhân đạo của Nhà nước vừa đảm bảo tính nghiêm minh, công bằng trong xã hội.

Ví dụ: Một người 17 tuổi 9 tháng phạm tội Cướp tài sản theo khoản 3 điều 133 Bộ luật hình sự 1999 nay là khoản 3 điều 168 Bộ luật hình sự 2015. Sau đó họ lại phạm tội Cưỡng đoạt tài sản theo khoản 2 điều 135 Bộ luật hình sự 1999 nay là khoản 2 điều 170 Bộ luật hình sự 2015 khi họ trên 18 tuổi. Người phạm tội bị xét xử cùng một lần về hai tội này và bị xử phạt 12 năm tù về tội Cướp tài sản và 8 năm tù về tội Cưỡng đoạt tài sản.

Nếu tổng hợp hình phạt theo Bộ luật hình sự năm 1999 và theo hướng dẫn tại  Nghị quyết số 04/NQ – HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì Tội cướp tài sản là tội nặng hơn tội cưỡng đoạt tài sản. Theo quy định tại khoản 1 điều 74 và khoản 1 điều 75 Bộ luật hình sự 1999 mức phạt tù tổng hợp của hai tội bị giới hạn  không vượt quá 3/4 mức hình phạt tù cao nhất của điều luật được áp dụng. Như vậy trong trường hợp này mức phạt tù tổng hợp của hai tội không được vượt quá 3/4 mức phạt tù cao nhất của khoản 3 điều 133 tức là không vượt quá 15 năm tù (3/4 của 20 năm = 15 năm). Nếu không bị giới hạn bởi mức hình phạt cao nhất thì hình phạt chung của hai tội là 12 năm + 8 năm = 20 năm. Nhưng do bị giới hạn nên hình phạt chung của hai tội chỉ là 15 năm.

Nếu tổng hợp hình phạt theo Bộ luật hình sự năm 2015 thì theo quy định tại điểm a khoản 3 điều 103 quy định “Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt áp dụng đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại khoản 1 Điều này”. Như vậy trong trường hợp này mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi (12 năm tù) nặng hơn mức hình phạt đối với tội được thực hiện khi đã đủ 18 tuổi (8 năm tù). Do đó mức hình phạt chung của hai tội trong trường hợp này là 18 năm tù. So sánh cách tổng hợp hình phạt của Bộ luật hình sự 2015 đối với cùng hành vi phạm tội so với Bộ luật hình sự 1999 thì mức hình phạt cao hơn vì không căn cứ vào khái niệm “Tội nặng nhất” mà căn cứ vào “Mức hình phạt Tòa án tuyên”. Với quy định trên vẫn thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật hình sự và đảm bảo tính nghiêm minh, công bằng trong pháp luật.

Tuy nhiên đối với quy định tại điểm b khoản 3 điều 103 Bộ luật hình sự 2015 thì còn có những cách hiểu khác nhau khi tổng hợp hình phạt.

Ví dụ: Một người phạm tội Giết người theo khoản 1 điều 93 Bộ luật hình sự 1999 nay là khoản 1 điều 123 Bộ luật hình sự 2015 khi 17 tuổi 10 tháng. Sau đó phạm tội Cướp tài sản theo khoản 3 điều 133 Bộ luật hình sự 1999 nay là khoản 3 điều 168 Bộ luật hình sự 2015 và tội Cố ý gây thương tích theo khoản 3 điều 104 Bộ luật hình sự 1999 nay là khoản 4 điều 134 Bộ luật hình sự 2015 khi người đó trên 18 tuổi. Toà án đưa ra xét xử 1 lần về 3 tội trên và tuyên phạt: 15 năm tù về tội Giết người; 12 năm tù về tội Cướp tài sản; 8 năm tù về tội Cố ý gây thương tích.

Nếu tổng hợp hình phạt theo Bộ luật hình sự năm 1999 thì tội nặng nhất là tội Giết người có mức án cao nhất là tử hình được thực hiện khi người phạm tội chưa đủ 18 tuổi. Do đó hình phạt chung theo quy định tại điều 74 và điều 75 Bộ luật hình sự 1999 có mức tối đa là 18 năm tù. Trong khi đó hình phạt chung của hai tội Cướp tài sản và Cố ý gây thương tích là 12 năm + 8 năm = 20 năm tù. Nhưng khi tổng hợp hình phạt của hai tội này với 15 năm tù của tội Giết người theo quy định của điều 74 và điều 75 Bộ luật hình sự 1999 thì hình phạt chung là 18 năm tù, ít hơn hình phạt chung của hai tội Cướp tài sản và Cố ý gây thương tích là không hợp lý.

Nếu tổng hợp hình phạt theo Bộ luật hình sự năm 2015 thì có những quan điểm như sau:

Quan điểm thứ nhất: Mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội Giết người là 15 năm tù cao hơn mức hình phạt đối với từng tội Cướp tài sản là 12 năm tù và Cố ý gây thương tích là 8 năm tù nên áp dụng điểm a khoản 3 điều 103 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt. Do đó hình phạt chung của các tội trong trường hợp này là 18 năm tù. Bởi vì theo điểm b khoản 3 điều 103 Bộ luật hình sự chỉ quy định “Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó đó đủ 18 tuổi nặng hơn mức hình phạt áp dụng đối với tội thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi thì hình phạt chung áp dụng như đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội”. Như vậy có thể hiểu mức hình phạt đối với từng tội khi người phạm tội trên 18 tuổi thấp hơn mức hình phạt khi người phạm tội chưa đủ 18 tuổi để tổng hợp hình phạt.

Quan điểm thứ hai: Theo quy định tại điểm b khoản 3 điều 103 mặc dù Bộ luật không nói rõ mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội, hay các tội được thực hiện khi đã đủ 18 tuổi mà chỉ quy định “Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi nặng hơn mức hình phạt áp dụng đối với tội thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi thì hình phạt chung áp dụng như đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội”. Nhưng khi tổng hợp hình phạt thì có thể hiểu “Tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi nặng hơn…” đã bao hàm các tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi. Do vậy khi tổng hợp hình phạt trong trường hợp này được thực hiện như đối với người đã thành niên phạm tội. Nên theo Bộ luật hình sự 2015 hình phạt chung được áp dụng là: (12 năm + 8 năm + 15 năm = 35 năm tù) nhưng do bị giới hạn theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 55 Bộ luật hình sự quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội. Nên mức hình phạt chung trong trường hợp này là 30 năm tù.


3. Tải file Bình luận Bộ luật Hình sự 2015 (hợp nhất năm 2017) – Phần chung

Tải về: Bình luận Bộ luật Hình sự 2015 (hợp nhất năm 2017) – Phần chung

5/5 - (7 bình chọn)


 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại bình luận