Trách nhiệm pháp lý là gì? Căn cứ truy cứu trách nhiệm pháp lý

0

1. Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm pháp lý

Trong ngôn ngữ hàng ngày thuật ngữ “trách nhiệm” được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau tùy thuộc vào lĩnh vực hoặc ngữ cảnh cụ thể. Trong lĩnh vực chính trị, đạo đức “trách nhiệm” được hiểu theo nghĩa bổn phận, vai trò. luôn mang tính tích cực xuất phát từ sự ý thức của con người về vị trí, vai trò của mình đối với xã hội, đối với những người thân thích, đối với thiên nhiên, môi trường... Chẳng hạn, trách nhiệm với gia đình, với bạn bè, trách nhiệm đối với đất nước, với nhân loại…

Trong lĩnh vực pháp lý thuật ngữ trách nhiệm” cũng được sử dụng theo hai nghĩa: Theo nghĩa tích cực, tch nhiệm được hiểu là nghĩa vụ (nói đến những điều pháp luật yêu cầu phải làm trong hiện tại và tương lai). Chẳng hạn, pháp luật quy định trách nhiệm cho một cơ quan nào đó phải tuyên truyền, phổ biến một văn bản quy phạm pháp luật cụ thể nào đó hay cơ quan A chịu trách nhiệm trước cơ quan . B; nghĩa thứ hai, là hậu quả bất lợi. Trách nhiệm theo nghĩa thứ hai là phải gánh chịu những hậu quả bất lợi vì đã vì phm pháp luật. Đó là sự phản ứng, lên án của nhà nước và xã hội đối với những chủ thể vi phạm pháp luật gây hậu quả xấu cho hội. Sau đây chúng ta nghiên cứu sâu về trách nhiệm pháp lý theo nghĩa hậu quả bất lợi.

Sở dĩ nhà nước quy định trách nhiệm pháp lý đối với những chủ thể vi phạm pháp luật là vì: thứ nhất, trong quy phạm pháp luật nhà nước đã đưa ra trước những cách xử sự có tính khuôn mẫu mà chủ thể được phép hoặc buộc phải lựa chọn khi ở vào hoàn cảnh, điều kiện đã được dự liệu. Và chủ thể khi ở vào hoàn cảnh, điều kiện đã được nhà nước dự liệu thì chỉ được phép hoặc buộc phải lựa chọn cho mình cách xử sự phù hợp từ những cách xử sự mà trong quy phạm pháp luật đã dự liệu cho trường hợp đỏ; thứ hai, các chủ thể pháp luật (trong trạng thái bình thường) luôn hoạt động có lý trí (họ ý thức được việc làm của mình, nghĩa là, họ có khả năng nhận thức, điều khiển được hành vi của mình và hậu quả do nó gây ra cho xã hội) và có tự do ý chí (họ khả năng và điều kiện để có thể tự lựa chọn cho mình cách xử sự có thể có trong hoàn cảnh, điều kiện nhất định). Vì vậy, họ đủ khả năng và phải chịu trách nhiệm về cách xử sự (hành vi) đã lựa chọn của mình. Nếu chủ thể chọn cách xử sự trái với ý chí của nhà nước đã thể hiện trong quy phạm pháp luật (không lựa chọn cách xử sự mà nhà nước cho phép hoặc buộc phải thực hiện trong trường hợp đó), thì chủ thể phải chịu trách nhiệm về việc làm của mình, phải chịu trách nhiệm pháp lý. Như vậy, trách nhiệm pháp lý chi đặt ra đối với những chủ thể có !ý trí và có tự do ý chí.

sở của trách nhiệm pháp lý là vi phạm pháp luật, trách nhiệm pháp lý chỉ xuất hiện khi trong thực tế xảy ra vi phạm pháp luật. Nếu trong thực tế không có vi phạm pháp luật thì không được truy cứu trách nhiệm pháp lý. Trách nhiệm pháp lý chỉ được phép áp dụng đối với các chủ thể vi phạm pháp luật. Không truy cứu trách nhiệm pháp lý đi với các hành vi trái pháp luật được thực hiện trong trường hợp: a/ chủ thể không có năng lực trách nhiệm pháp lý (không có khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình); b/do sự kiện bất ngờ (chủ thể không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả do hành vi của mình gây ra); c/ do phòng vệ chính đáng; d/ dược thực hiện phù hợp với tình thế cấp thiết.

Chỉ các cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền hay các chủ thể được pháp luật trao quyền thì mới có quyền truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với tổ chức hay cá nhân nào đó. Nó thể hiện ở việc các cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền hay các chủ thể quyền theo trình tự thủ tục luật định yêu cầu chủ thể bị truy cứu trách nhiệm pháp lý giải thích rõ về hành vi của mình và buộc chủ thể vi phạm phải chịu những thiệt hại nhất định (về nhân thân, vtài sản, về tự do...) đã được quy định trong bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật.

Hình minh họa. Trách nhiệm pháp lý là gì? Căn cứ truy cứu trách nhiệm pháp lý

Trách nhiệm pháp lý luôn gắn liền với những biện pháp cưỡng chế được quy định trong chế tài các quy phạm pháp luật. Truy cứu trách nhiệm pháp lý về thực chất là áp dụng những biện pháp cưỡng chế đã được quy định trong bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật đối với các chủ thể vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, bản thân trách nhiệm pháp lý không phải là sự cưỡng chế mà chỉ là nghĩa vụ phải gánh chịu những biện pháp cưỡng chế do pháp luật quy định. Chủ thể vi phạm pháp luật bbuộc phải thực hiện những biện pháp cưỡng chế được quy định ở bộ phận chế tài của quy phạm pháp luật. Như vậy, về nội dung thì trách nhiệm pháp lý là sự áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với chủ thể vi phạm pháp luật, còn về hình thức thì đó là việc tổ chức cho chủ thể vi phạm pháp luật thực hiện bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật.

Tuy nhiên, cũng cần chú ý là có một số biện pháp cưỡng chế nhà nước đưc áp dụng không liên quan gì tới trách nhiệm pháp lý, nghĩa là nó được áp dụng cả khi không xảy ra vi phạm pháp luật. Chẳng hạn, nhà nước có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế nhằm cách ly những người mắc một số bệnh truyền nhiễm; nhà nước có thể áp dụng biện pháp trung thu, trưng dụng hay trang mua một số tài sản nào đó khi thấy cần thiết…

Truy cứu trách nhiệm pháp lý là một quá trình hoạt động phức tạp và rất khó khăn của các cơ quan nhà nước, các nhà chức trách có thẩm quyền trong việc xem xét, tìm hiểu sự việc bị coi là vi phạm pháp luật, ra quyết định giải quyết vụ việc và tổ chức thực hiện quyết định đó.

Như vậy, trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi (sự trừng phạt) đối với chủ thể vi phạm pháp luật, thể hiện ở môi quan hệ đặc biệt giữa nhà nước với chủ thể vi phạm pháp luật, được các quy phạm pháp luật xác lập và điều chỉnh, trong đó chủ thể vi phạm pháp luật phải chịu những loại quả bất lợi. Những biện pháp cưỡng chế được quy định cơ chế tài các quy phạm pháp luật.


2. Mục đích việc truy cứu trách nhiệm pháp lý

Mọi hiện tượng vi phạm pháp luật đều có hại cho xã hội vì phá vỡ trật tự pháp luật, nó trực tiếp hoặc có nguy cơ gây ra những thiệt hại nhất định về vật chất và tinh thần cho cá nhân, tổ chức, xâm hại đến các quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ. Vì thế, việc truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật là nhằm bảo về chế độ xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích của nhân dân, của tổ chức, bảo vtrật tự pháp luật, tạo điều kiện cho những quan hệ xã hội phát triển đúng hướng, đảm bảo cho quá trình điều chỉnh pháp luật được tiến hành bình thường và có hiệu quả.

Truy cứu trách nhiệm pháp lý trước hết là nhằm mục đích trừng phạt đối với chủ thể vi phạm pháp luật, buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế được quy định trong chế tại các quy phạm pháp luật. Ngoài mục đích trừng phạt, truy cứu trách nhiệm pháp lý còn có ý nghĩa rất lớn trong việc phòng ngừa, cải tạo và giáo dục những chủ thể vi phạm pháp luật (ngăn ngừa sự tiếp tục vi phạm pháp luật của chủ thể và cải tạo giáo dục chủ thể ý thức tôn trọng, thực hiện nghiêm minh pháp luật và các quy tắc của cuộc sống cộng đồng).

Truy cứu trách nhiệm pháp lý còn có tác dụng răn đe tất cả những chủ thể khác khiến họ phải kiểm chế, giữ mình không vi phạm pháp luật, giáo dục các tổ chức và các cá nhân ý thức tôn trọng và thực hiện nghiêm minh pháp luật và các quy tắc của cuộc sống cộng đồng, làm cho mọi người tin tướng vào công , tích cực đấu tranh phòng và chống vi phạm pháp luật, từng bước hạn chế và tiến tới loại trừ hiện lượng vi phạm pháp luật ra khỏi đời sống xã hội.


3. Căn cứ để truy cứu trách nhiệm pháp lý

Để truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với tổ chức hay cá nhân nào đó cần phải xác định được cơ sở thực tiễn và cơ sở pháp lý làm căn cứ cho việc truy cứu. Về cơ sở thực tiễn để truy cứu trách nhiệm pháp lý thì phải có vi phạm pháp luật xảy ra. Về cơ sở pháp lý đó là những quy định pháp luật hiện hành liên quan đến vi phạm pháp luật đó thẩm quyền, trình tự, thủ tục để giải quyết vụ việc đó.

+ Khi xác định cơ sở thực tiễn cần xem xét từng yếu tố của cấu thành vi phạm pháp luật. Điều đầu tiên phải tiến hành là xác định được trong thực tế đã xảy ra hành vi trái pháp luật nguy hiểm, nếu không xác định được hành vi trí pháp luật nguy hiểm trong thực tế, thì không được truy cứu trách nhiệm pháp lý.

Tiếp đến là đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật đó thông qua việc xác định hậu quả (sự thiệt hại về vật chất, về tinh thần và những thiệt hại khác nếu có do hành vi đó gây ra cho xã hội. Một hành vi trái pháp luật nhưng gây nguy hiểm cho xã hội không nhiều những thiệt hại mà nó gây ra là không đáng kể hoặc nguy cơ gây hại cho xã hội thấp) thì không bị truy cứu trách nhiệm pháp lý. Trong một số trường hợp mức độ nguy hiểm của hành vi còn là căn cđể xác định loại trách nhiệm pháp lý cần truy cứu. Chẳng hạn, căn cứ vào mức độ thương tích của người bị hại mà quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự hay trách nhiệm hành chính.

Cần làm rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với hậu quả, tuyệt đối không được suy diễn về hậu quả. nghĩa là phải xác định một cách chắc chắn rằng sự thiệt hại của xã hội là do chính hành vi trái pháp luật đó trực tiếp gây ra. Không thể bắt chủ thể phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại mà hành vi trái pháp luật của họ không trực tiếp gây ra (giữa hành vi trái pháp luật của họ và sự thiệt hại của xã hội không có mối quan hệ nhân quả)…

Để cải tạo, giáo dục chủ thể vi phạm phạm pháp luật có hiệu quả khi truy cứu trách nhiệm pháp trong một số trường hợp cần phải xác định cả thời gian, địa điểm và cách thức... mà chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Khi xác định được những điều nói trên thì việc lựa chọn biện pháp cưỡng chế mới chính xác, phù hợp với mục đích cần truy cứu trách nhiệm pháp và đạt được hiệu quả cao trong việc cải tạo, giáo dục chủ thể vi phạm pháp lut.

Việc xác định lỗi, động cơ và mục đích vi phạm trong nhiều trường hợp khi truy cứu trách nhiệm pháp lý là rất cần thiết, cho phép lựa chọn được biện pháp cưỡng chế thích hợp.

Về nguyên tắc, trách nhiệm pháp lý chi áp dụng đối với các chủ thể năng lực trách nhiệm pháp lý khi họ thực hiện hành vi trái pháp luật có lỗi, tức là chủ thể hành vi đó có khả năng nhận thức được những hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra nhưng cô ý hoặc vô ý gây ra. Tuy nhiên, trong một số trường hợp pháp luật còn cho phép truy cứu trách nhiệm pháp lý đi với cả những hành vi trái pháp luật được thực hiện do những nguyên nhân khách quan hoặc trường hợp thiệt hại do những nguồn nguy hiểm cao độ như phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ… gây ra một strường hợp khác trong quan hệ dân sự mặc dù không lỗi chủ thể vẫn phải chịu trách nhiệm pháp lý. Chẳng hạn, cha mẹ hay người giám hộ phải bồi thường thiệt hại do con mình (dưới mười lăm tuổi) hoặc người mất năng lực hành vi dân sự gây ra. Trong những trường hợp trên chỉ áp dụng những biện pháp tác đng mang tính chất khôi phục thiệt hại, không áp dụng các biện pháp trách nhiệm hình sự.

Khi xác định chủ thể vi phạm pháp luật cần chú ý tới năng lực trách nhiệm pháp lý của chủ thể trong môi trường hợp cụ thể. Nếu chủ thể là cá nhân thì phải xác định xem người đó đã đạt được độ tuổi theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm pháp lý trong trường hợp đó hay chưa? . và trạng thái tâm lý (thần kinh) của họ như thế nào ở thời điểm họ thực hiện hành vi trái pháp luật đó. Nếu chủ thể là tổ chức thì phải chú ý đến tư cách pháp nhân hoặc địa vị pháp lý của tổ chức đó.

Khi xem xét khách thể vi phạm pháp luật cần chú ý tới tính chất và tầm quan trọng của khách thể để đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật.

Khi xác định cơ sở pháp lý cho việc truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với trường hợp vi phạm pháp luật đó cần chú ý tới trước hết là thẩm quyền của cơ quan hay nhà chức trách trong việc giải quyết vụ việc, trình tự, thủ tục để giải quyết vụ việc đó, các biện pháp mà pháp luật quy định có thể áp dụng đối với chủ thể vi phạm… Ngoài việc xác định các vấn đề đó còn phải xem xét cả thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với trường hợp vi phm cụ thể đó và những trường hợp được miễn trách nhiệm pháp lý (nếu có) khi tiến hành truy cứu trách nhiệm pháp lý.

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý là thời hạn do pháp luật quy định mà khi thời hạn đó kết thúc thì chủ thể vị phạm pháp luật sẽ không bị truy cứu trách nhiệm pháp lý nữa. Thời hạn là một khoảng thời gian được c định từ thời điểm này đến thời điểm khác. Khoảng thời gian đó có thể tính bằng giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện nào đó). Đối với các loại vi phạm pháp luật khác nhau thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý được quy định khác nhau. Pháp luật của nhiều nước không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với một số loại vi phạm pháp luật quá nguy hiểm gây thiệt hại lớn cho xã hội. Ví dụ: BỘ luật hình sự Việt nam quy định không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh.

Pháp luật cũng có thể quy định miễn trách nhiệm pháp lý cho một số chủ thể trong những trường hợp nhất định.

Trách nhiệm pháp lý sẽ chấm dứt khi xảy ra sự kiện pháp lý thích ứng như có quyết định an xã; thời hạn trừng pht đã kết thúc; nộp phạt xong...


4. Các loại trách nhiệm pháp lý

Trách nhiệm pháp lý có nhiều loại, thông thường chúng được chia thành: Trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính; trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm dân sự và trách nhiệm vật chất.

Trách nhiệm hình sự là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất do tòa án áp dụng đối với những chủ thCó hành vi phạm tội.

– Tch nhiệm hành chính là loại trách nhiệm pháp lý do các cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền áp dụng đi với các chủ thể vi phạm hành chính.

– Trách nhiệm kỷ luật là loại trách nhiệm pháp lý do các cơ quan, nghiệp, trường học... áp dụng đối với cán bộ, Công chức, nhân viên, sinh viên… của cơ quan, xí nghiệp, trường học…của mình khi họ vi phạm pháp luật.

Trách nhiệm dân sự là loại trách nhiệm pháp lý do tòa án hoặc các chủ thể khác được phép áp dụng đối với các chủ thể vi phạm dân sự.

– Trách nhiệm vật cht là loại trách nhiệm pháp lý do các cơ quan, xí nghiệp… áp dụng đối với cán bộ, công chức, Công nhân… của cơ quan, xí nghiệp trong trường hợp họ gây thiệt hại về tài sản cho cơ quan, xí nghiệp.

Để bảo đảm sự công bằng và tính hiệu quả trong việc truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với môi trường hợp vi phạm pháp luật cụ thể có thể áp dụng một hoặc cùng đồng thời nhiều loại trách nhiệm pháp lý.


5. Những yêu cầu cơ bản đối với việc truy cứu trách nhiệm pháp lý

Việc truy cứu trách nhiệm pháp lý đòi hỏi phải bảo đảm một số những yêu cầu cơ bản sau:

+ Chỉ truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những hành vi trái pháp luật, lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện.

+ Bảo đảm nguyên tắc pháp chế trong hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý. Tuân thủ nguyên tắc pháp chế trong hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý là điều kiện vô cùng quan trọng để việc truy cứu được tiến hành chính xác, đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục, đúng pháp luật.

+ Bảo đảm sự công bằng và nhân đạo trong hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý như không áp dụng những biện pháp trừng phạt nhằm làm nhục con người, không áp dụng hiệu lực trở vtrước (hiệu lực hồi tố) khi luật quy định trách nhiệm pháp lý mới hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn; nếu sự thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật gây ra: a/ có thể khôi phục được thì phải có biện pháp khôi phục lại, b/ không thể khôi phục được thì sự trừng phạt phải nặng tương xứng với sự thiệt hại, c/ nếu có ảnh hưởng về lâu dài thì cần áp dụng cả các biện pháp bảo đảm khắc phục thiệt hại về lâu dài; đối với mỗi vi phạm pháp luật chỉ bị trừng phạt một lần và chỉ áp dụng một biện pháp trừng phạt, trừ trường hợp cần phải áp dụng biện pháp trừng phạt bổ sung hoặc trường hợp phải áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật gây ra; chịu trách nhiệm pháp lý phải là đích danh chủ thể đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật (trong một số lĩnh vực như pháp luật dân sự, kinh tế… có thể cho phép chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại thay cho chủ thể khác);

+ Bảo đảm tính phù hợp khi truy cứu trách nhiệm pháp lý, tức là, cần cá biệt hoá biện pháp trừng phạt đối với mỗi chủ thể cụ thể phụ thuộc vào mức độ nguy hiểm do hành vi của họ gây ra, nhân thân của chủ thể, hoàn cảnh xảy ra vị phạm…; có thể sử dụng cả những tình tiết giảm nhẹ mà pháp luật không quy định; lựa chọn biện pháp cưỡng chế phải phù hợp với mục đích truy cứu trách nhiệm pháp lý và nêu mục đích truy cứu đã đạt được trước thời hạn so với luật định thì có thể giảm nhẹ (chuyển từ tù giam sang cải tạo lao động…) hoặc xóa trách nhiệm pháp lý.

+ Việc truy cứu trách nhiệm pháp lý phải được tiến hành kịp thời, nhanh chóng, công minh, chính xác theo đúng pháp luật và phải đạt hiệu quả cao. Truy cứu trách nhiệm pháp lý trước hết phải kip thời, nhanh chóng, công minh và chính xác thì tác dụng phòng ngừa và giáo dục mới cao. Trong hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý điều quan trọng không phải là trng phạt nặng, mà là mọi vi phạm pháp luật, đặc biệt là tội phạm đều bị phát hiện kịp thời, mọi tổ chức và nhân vi phạm pháp luật đều bị xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật. Việc truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với môi trường hợp cụ thể cần phải lựa chọn biện pháp cưỡng chế cho phù hợp (nên phạt cảnh cáo, phạt tù hay phạt tiền ...) mức độ cưỡng chế bao nhiêu thì phù hợp (bao nhiêu năm tù? bao nhiêu tiền? vv.). Ngoài ra còn phải tính đến khả năng thực hiện trên thực tế biện pháp cưỡng chế đã lựa chọn, ảnh hưởng của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý cụ thể đó đối với chính bản thân chủ thể vi phạm, đối với gia đình họ hoặc những người có liên quan, tác dụng đối với công tác đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật trong xã hội như thế nào… Chẳng hạn, việc truy cứu trách nhiệm pháp lý ngoài mục đích trừng phạt có cải to, giáo dục được người vi phạm pháp luật hay không? có tìm ra được những nguyên nhân, những điều kiện dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật trong xã hội hay không? có đưa ra được những giải pp gì cho việc phòng ngừa, đấu tranh chống lại hiện tượng vi phạm pháp luật trong tương lai hay không? có tác dụng răn đe đối với những người chưa vi phạm pháp luật hay không...

Hiệu quả của hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý còn thể hiện mức độ, tốc độ và phạm vi xóa bỏ được các hiện tượng vi phạm pháp luật trong xã hội, những chi phí về sức người, về vật chất, về thời gian và những chi phí khác cho hoạt động này.

Xem thêmSo sánh các loại trách nhiệm pháp lý

5/5 - (5 bình chọn)

 
LƯU Ý: Nội dung bài viết trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung bài viết trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách pháp luật. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: info@hilaw.vn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM
Để lại bình luận

Đây là nơi để trao đổi ý kiến bài viết hoặc yêu cầu download tài liệu. 

Một số lưu ý:

- Địa chỉ email bạn cung cấp tại trường "Email của bạn" sẽ không được công khai. (Không khuyến khích để lại thông tin email tại trường "Bình luận của bạn")

- KHÔNG sử dụng ngôn từ thiếu văn hoá, khiêu dâm, đe dọa, lăng nhục hay xúc phạm cá nhân, đơn vị hay tổ chức khác hoặc bình luận mang tính chất spam.